Các bề trên trong hội dòng được trao cho quyền bính để phục vụ cộng đoàn nhà dòng của mình. Các ngài có quyền bính thực sự và được mời gọi thực thi quyền bính đó theo phong cách Giáo Luật diễn tả:

Trong tinh thần phục vụ, các Bề Trên hãy hành sử quyền hành đã lãnh nhận từ Thiên Chúa qua tác vụ của Giáo Hội. Vì vậy, các vị hãy tỏ ra ngoan ngoãn với ý Chúa trong khi chu toàn nhiệm vụ, cai trị các người thuộc quyền như những người con của Chúa, biết tôn trọng nhân vị của các người ấy qua việc xúc tiến sự vâng lời tự nguyện, vui lòng lắng nghe họ và cổ xúy sáng kiến của họ nhằm thiện ích của dòng và của Giáo Hội, tuy vẫn duy trì quyền của Bề Trên quyết định và truyền khiến điều gì phải làm [GL 618].

Các Bề Trên hãy tận tâm thi hành nhiệm vụ của mình, và cùng với các phần tử được giao phó, hãy tìm cách xây dựng trong Ðức Kitô một cộng đồng huynh đệ, trong đó mọi người tìm kiếm và yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Vì vậy các Bề Trên hãy nuôi dưỡng các phần tử với lương thực thường xuyên của lời Chúa và dẫn đưa họ tới cử hành phụng vụ. Các Bề Trên hãy làm gương cho họ về việc trau dồi nhân đức và tuân hành lề luật và truyền thống của Dòng; chu cấp tương xứng các nhu cầu của họ, săn sóc và viếng thăm các người bệnh, sửa trị các người ngỗ nghịch, an ủi những người nhút nhát, nhẫn nại với hết mọi người [GL 619].

Việc thực thi này trên thực tế ra sao? Giáo Luật không có nói và dành cho mỗi hội dòng cũng như sự thích ứng theo hoàn cảnh. Con xin được trích “hồi ức” của một vị đã nhiều năm giữ vai trò Bề trên, từ cộng đoàn địa phương cho tới lãnh đạo hội dòng. Ngài chia sẻ:

“Nhiều năm làm việc kéo dài gần như suốt một thời gian dài cho tới ngày hôm nay, thì vấn đề của tôi phần lớn là làm sao lãnh đạo cho tốt hơn là làm sao vâng phục; mối lo lớn nhất của tôi là làm sao quyết định cho đúng trong tư cách một người lãnh đạo, hơn là làm sao vâng lời một bề trên.  . .  .  Trong tư cách một người nắm giữ quyền điều hành và lãnh đạo trong nhiều năm, hơn ai hết dĩ nhiên tôi thâm tín về giá trị và sự cần thiết của tôn ti trật tự trên dưới đối với bất kỳ một xã hội hay tổ chức nào. Vâng phục dứt khoát là hợp lý và cần thiết vì tính điều hợp và gắn kết của nó! Về mặt lý thuyết sẽ không có gì để bàn cãi, thế nhưng, về mặt nhân cách tu sĩ, thì hình như luôn có một tiếng thì thầm bên tai tôi rằng: cho dẫu cần thiết và có giá trị thật đấy, nhưng Vâng phục vẫn chỉ là một điều tôi phải miễn cưỡng chấp nhận mà thôi! Hoàn toàn vì… kết quả tốt lành của nó trên xã hội và tập thể thì nhiều, nhưng trên chính con người đang Vâng phục thì ít.” Và ngài kết lại suy tư về vâng phục của bản thân: “Tóm lại quan niệm vâng phục của tôi không mấy nhất quán.”

 

 “Mối lo duy nhất là làm sao quyết định cho đúng trong tư cách người lãnh đạo”. Đây là một phong thái làm bề trên của một hội dòng và rồi khi suy nghĩ lại, vị bề trên này cảm thấy có cái gì không ổn và mang nhiều trăn trở.

Kính thưa Bề trên, phải chăng vai trò của bề trên là phải lo sao quyết định cho đúng trong tư cách người lãnh đạo, người lên tiếng nói cuối cùng, người chịu trách nhiệm về các quyết định trong việc điều hành đời sống và sứ mệnh của cộng đoàn tu sĩ?

Quả đúng là như thế, như HL SDB chúng con diễn tả, áp dụng GL 618 [và con tin rằng các Hiến Pháp Hội Dòng cũng diễn tả cách tương tự]: “Bề trên thi hành quyền bính của mình bằng cách lắng nghe anh em, khích lệ sự đóng góp của mọi người và cổ võ sự liên kết các ý chí trong đức tin và đức mến. Ngài kết thúc giờ phút tìm kiếm chung bằng cách lấy những quyết định thích hợp, thường đến tự việc đồng quy các quan điểm” [HL 66]

Đó là phong cách lãnh đạo của các bề trên được các hội dòng diễn tả: “Lo sao lấy được những quyết định thích hợp, thường đến tự việc đồng quy các quan điểm.” Phong cách này đã được vị bề trên chia sẻ như ta đã nghe. Nhưng chính bản thân ngài cảm thấy có gì không ổn [!]

Tại sao thế, một điều rất rõ là chúng ta đã bước vào một thời đại mới, thời đại của thông tin bùng nổ, đa chiều. Một vấn đề được nhìn từ nhiều góc cạnh và rồi không chỉ có một giải pháp cho một vấn đề để rồi Bề trên an tâm đây là giải pháp thích hợp [chưa dám nói là thích hợp nhất!], truyền lệnh cho bề dưới, coi đó là Ý Chúa và rồi bề dưới cũng coi đó là ý Chúa được diễn giải qua Bề trên  và vâng nghe!

Trong khi đó, hiện nay, Giáo Hội nói tới một phong cách lãnh đạo trong các hội dòng được hàm ý trong GL 619, mà chúng ta có thể sử dụng từ “sinh động hóa” để chỉ đến phong cách này. Bài nói chuyện này xin được triển khai qua ba phần. Phần Nhất, chúng ta hiểu gì về Sinh Động Hóa? Phần Hai đề cập đến chính vị Bề Trên là người Sinh Động, đâu là những tố chất và thái độ cần vun trồng để có thể chu toàn trách vụ Sinh động hóa này? Và Phần Ba, đâu là những bước cần thiết trong việc Sinh Động Hóa, hay nói cách khác, Sinh động hóa được thi hành cụ thể ra sao?

 

  • SINH ĐỘNG HÓA: XÁC ĐỊNH NỘI HÀM VÀ ĐỐI TƯỢNG

 

Từ ngữ “sinh động hóa” đến từ chữ Latin và những chữ xuất phát từ tiếng Latinh
“Animare”, động từ hóa danh từ Anima, nghĩa là “hồn”, “Sinh khí”, “Sống”. Cái gì có “hồn”, có “sinh khí” là sinh vật, hữu thể sống.

            Áp dụng trong bối cảnh đời sống thánh hiến chúng ta, animare là “làm cho sống”, “làm cho sinh động”. Sinh động gì nếu không phải là sinh động chính đời sống thánh hiến? Chắc chắn đời sống thánh hiến cốt yếu là một đời sống, đời sống được thánh hiến. Chúa Giêsu chính là Sự Sống. Ngài đến để ban cho ta sự sống, sự sống đích thực và là sự sống dồi dào (Ga 10, 10). Song sự sống mà những người môn đệ của Đức Giêsu là chúng ta đây cùng với các thành viên hội dòng mình mưu tìm, quan tâm, khao khát, hẳn không phải là một loại đời sống xàng xàng nào, mà là đời sống tận căntuyệt hảophong phútràn đầyđầy phẩm chất, tốt hơn cả (PC).

Khi tuyên khấn, mọi tu sĩ thánh hiến đều khao khát từ bỏ ý riêng của mình để mưu tìm và vâng phục thánh ý Chúa[1]. Thánh ý ấy được tỏ hiện qua Tin Mừng, qua Huấn quyền của Giáo Hội, Tu Luật Hội Dòng [Hiến Pháp/Quy Chế] và qua hiện trạng cuộc sống. Sống đúng theo Ý Chúa như thế, họ được sống sự sống Thiên Chúa cách sung mãn và được bình an. Bề trên đóng vai trò trung gian để diễn giải Ý Chúa trong những tình huống cuộc sống hàng ngày. Các ngài được ban cho ”quyền bính” [Authority] để diễn giải Ý Chúa cho thành viên hội dòng. Từ ngữ Authority [autoritas] này lại đến từ gốc Latinh: augeo, augere, auctum mà chúng ta thấy từ ngữ tiếng Anh đến từ đó là Author [tác giả, người hình thành nên], cũng như AugmentAuction [đấu giá]. Như thế, Authority có nghĩa là làm cho gia tăng, tăng trưởng, gợi lên sự tham gia [auction: đấu giá].

Như vậy, vai trò của bề trên chắc chắn không phải chỉ là để “cầm cương nảy mực”, “giữ gìn” theo nghĩa là “thủ”, “bảo thủ” mà là phải giúp cho hội dòng mình “tiến”, “tiến bộ”, “phát triển”, “cấp tiến” hiểu theo nghĩa đúng đắn của nó. Chúng ta cứ lấy hình cảnh của một CEO, một vị lãnh đạo công ty đời, người lành đạo quốc gia. Việc chính của họ là làm sao cho công ty được “tiến” [thêm thị phần, mở rộng thị trường; người dân thêm thu nhập, cuộc sống được thăng tiến v,.v . . .]. Như vậy, các cha xứ, giám mục, được trao cho quyền bính nghĩa là trao cho trách nhiệm làm gia tăng đoàn chiên cả phẩm lẫn lượng; bề trên dòng trao cho quyền bính để làm gia tăng phẩm chất đời sống thánh hiến, huynh đệ, và mở rộng sự phục vụ tông đồ cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

Đương nhiên, chúng ta cũng hay nói tới nhiệm vụ là “duy trì”, “gìn giữ” “bảo vệ vẹn toàn đức tin, trung thành với đoàn sủng v. v. . . [Và vẫn có người vấn nạn khi nhìn đến một số lãnh đạo ngày nay nắm chặt vị trí quyền bính của mình và không hề tỏ ra dấu hiệu nào sẽ từ bỏ. Tiếc thay, trong Giáo Hội cũng có biểu hiện như thế]. Đó là vì quyền bính đã bị hiểu và thực thi cách sai lạc, trở thành một thứ lạm dụng quyền bính [quyền hành] và vì thế là bảo thủ.  Trong khi đó, đức tin, đoàn sủng là những thực tại sống, chứ không phải là vật. Mà thực tại sống lại phải triển nở, vươn ra, lớn lên. Tự nó, quyền bính [Authority/Augmentare] cũng là một thực tại sống động, năng động, mang tính phát triển nếu được hiểu đúng và thực hiện đúng. Trong lãnh vực đời, khi người ta nói đến phát triển kỹ thuật, gia tăng thị phần, thâu tóm quyền quyết định để mưu lợi cho bản thân [danh giá, kinh tế], thì quyền bính hay quyền hành trong Giáo Hội lại nói đến sự thăng tiến, phát triển của những con người, người Kitô hữu trong Đức tin, cộng đoàn giáo hội trong đức ái, trong sự hiệp nhất, của những con người tu sĩ phát triển đời sống thánh hiến và lòng trung thành của mình với đoàn sủng v. v. . Đó là nhiệm vụ Giáo hội ủy thác, trao ban và các bề trên lãnh nhận [GL 619].

Chúng ta đã nghe rất nhiều về “sự phục vụ của quyền bính”, “quyền bính là nhằm phục vụ”. Chắc chắn là đúng, nhưng việc phục vụ đây không chỉ có nghĩa là cầm cái chổi quét nhà, lao động v. v.. Hẳn rằng những công việc trong gia đình, khiêm hạ như thế là đáng quý, nhưng tự chúng lại không phải là việc phục vụ của quyền bính mà các bề trên được mời gọi thực thi. Quyền bính là giúp/phục vụ anh [chị] em mình thăng tiến, được thăng tiến như người Kitô hữu, như người tu sĩ sống đời thánh hiến, đưa tới mức cuộc sống dồi dào, sung mãn, niềm vui trọn vẹn [1Ga 1].

  1. Hiểu như thế, sinh động hóa là làm cho thực thể sống được sống động hơn, một thực tại sống được sống và phát triển, một con người và những con người dưới quyền mình được thăng tiến. Câu hỏi được đặt ra là thăng tiến gì? Câu trả lời hệ tại ba vòng tròn đan xen vào nhau:
  • Vòng thứ nhất mang tên hiệp nhất. Nói cách khác, trách vụ đầu tiên của quyền bính là quy tụ, hiệp nhất, hình thành một đội ngũ hiệp nhất bởi vì chỉ như thế công việc mới hiệu quả. Giáo Hội nói:

Những ai cầm quyền cổ võ sự tăng trưởng đời sống huynh đệ qua việc lắng ngheđối thoại, tạo nên mội trường thuận lợi để chia sẻ và đồng trách nhiệm, sự tham dự của mọi người vào việc quan tâm lẫn nhau, quân bình phục vụ giữa cá nhân và cộng đoàn, phân định và cổ võ sự vâng phục.[2]

Tuy nhiên, hiệp nhất không chỉ được xây dựng ở chiều  ngang,  tức là, sự hiệp nhất của những thành viên trong cộng đoàn với nhau. Hiệp nhất còn phải được cổ võ theo chiều dọc nữa, tức là, sự hiệp nhất của cộng đoàn địa phương với cộng đoàn lớn hơn là Tỉnh Dòng và các cộng đoàn lớn hơn nữa là Hội Dòng và Giáo Hội.

Vì vậy, người có quyền bính, là người hiệp nhất, và thực tại này phải thật là rõ trong những thái độ, lời nói và hành động. Nếu ngược lại, vị đó có khuynh hướng hay phê bình Đức Thánh Bề trên, Bề trên Bề Trên Cả, hay các Bề Trên khác, hẳn ngài sẽ thất bại ngay chính trong trách vụ đầu tiên của người có quyền bính là xây dựng sự hiệp nhất.

  • Vòng tròn thứ hai có tên là sứ mệnh. “Sứ mệnh” nói tới công cuộc tông đồ. Để được như thế, một Bề Trên tốt biết cách hun đúc lòng nhiệt thành và tinh thần truyền giáo, với lòng yêu mến sâu xa người nghèo khổ, tới đối tượng hội dòng hướng tới phục vụ và giúp họ thăng tiến cả về nhân bản lẫn Kitô hữu. Bề trên khéo léo và nhẫn nại phối hợp nỗ lực của mọi người phục vụ cho sứ mệnh. Ngài nhắc nhở cho mọi thành viên cộng đoàn trong sứ mệnh hoặc đang làm một việc tông đồ nào, ngay cả khi một mình, rằng họ đang hành động nhân danh công cuộc hay cộng đoàn và như thế làm việc nhờ cộng đoàn.[3]

Vị bề trên tìm cách tốt nhất sao cho “cộng đoàn cùng nhau tiến bước, và nếu cần, chờ đợi anh em tiến chậm hơn, trân trọng sự đóng góp của từng người, chia sẻ bao có thể niềm vui và nỗ lực, cách nhìn và những gì không vững chắc, để rồi ai nấy đều cảm thấy việc tông đồ của người khác cũng là của mình, không tị hiềm hay ghen tương.” [4]

Hơn nữa, ngài cổ võ sự cộng tác với người đời trong các công cuộc và hoạt động của hội dòng, ý thức rằng sự tham gia của người đời đem lại những đóng góp vô giá nhờ tính chất họ “hiện diện ở đời” và công việc chuyên biệt của họ. Lưu tâm như thế, ngài nỗ lực nhận diện khả năng và trách nhiệm của người đời cũng như của tu sĩ và những thực thể trung gian (hội đồng quản trị chẳng hạn).

  • Sau cùng, vòng tròn thứ ba liên quan tới việc mỗi cá nhân thành viên hội dòng hoàn thành ơn gọi của mình. Ngay cả khi vị Bề Trên lưu tâm đến cộng đoàn, ngài không được xao lãng người hội viên và những nhu cầu của họ. Ngài đồng hành với cá nhân họ, nhìn nhận những khả năng và sự nhạy bén của họ, lưu tâm đến hiện trạng của họ và tìm cách để họ cống hiến tốt nhất cho các hội viên và đối tượng hội dòng/cộng đoàn phục vụ. Như Giáo Hội dạy:

 Người có quyền bính được mời gọi cổ võ phẩm giá của nhân vị,” lưu tâm đến từng thành viên của cộng đoàn và sự tăng trưởng của họ, trân trọng và suy xét tích cực từng người, nuôi dưỡng lòng cảm mến chân thực với mọi người và gìn giữ cẩn mật những gì được tín cẩn thổ lộ.”[5] Ngài phải “lưu tâm đến tính tình của mỗi hội viên . . . những khó khăn và khuynh hướng của họ, để có thể giúp cho từng người biết cách diễn tả . .. những tài năng của họ, . . . tôn trọng sự tự do của hết mọi người . . .[6] 

Điều đáng lưu ý là cả ba vòng tròn này đang xen vào nhau, nghĩa là, chúng tương quan với nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Chẳng hạn, trong một cộng đoàn được hiệp nhất (vòng tròn thứ nhất) và hiến mình cho sứ mệnh (vòng tròn thứ hai) và từng thành viên thấy chu toàn được trong ơn gọi của mình (vòng tròn thứ ba), ít nhất là theo mức độ nào đó. Tương tự như thế, nếu một thành viên cảm thấy mình được hoàn thành trong ơn gọi của mình (vòng tròn thứ ba), thì chỉ nguyên kinh nghiệm này mà thôi đã có thể đưa tới việc mình sống và làm việc hài hòa với anh [chị] em thành viên khác trong cộng đoàn (vòng tròn thứ nhất và thứ hai).

Còn có một điều quan trọng nữa cần phải lưu ý: nếu phải vẽ ba vòng tròn, chúng không chỉ đan xen với nhau nhưng còn cùng một kích cỡ, chỉ vì cả ba trách vụ phục vụ của quyền bính đều quan trọng như nhau. Nếu như vòng tròn hiệp nhất to hơn hai vòng tròn kia, kết quả sẽ là một cộng đoàn chỉ nhìn vào bên trong với những hội viên chỉ lo an hưởng một đời sống thoải mái và không muốn tận tâm  dấn thân hy sinh cho sứ mệnh. Nếu vòng tròn sứ mệnh lớn hơn, tâm điểm sẽ là làm việc, làm việc, làm việc; tất cả những gì còn lại –tương quan, cầu nguyện, đời sống cộng đoàn--tất cả trở thành thứ yếu và dễ dàng bị hy sinh. Sau cùng nếu vòng tròn cá nhân lớn hơn hai vòng tròn kia, kết quả sẽ là chủ nghĩa cá nhân, ganh tị và ích kỷ trong cộng đoàn.

  1. Đến đây, chúng ta đã thấy ba trách vụ của quyền bính làm làm sao tăng trưởng—sự hiệp nhất, sứ mệnh phục vụ và sự hoàn thành cá nhân trong ơn gọi—ta không thể nào lại không hỏi: đâu là phương thế mà quyền bính có được để chu toàn những trách vụ này? Câu trả lời nằm trong hai chữ đã được biết nhưng không luôn luôn hiểu rõ, tức là sinh động hóa và cai quản. Trong hai từ này, từ ngữ dễ hiểu và thực hành là cai quản chứ không phải là sinh động.

Cai quản có nghĩa là: ra lệnh, đưa ra chỉ thị, nói cho người ta làm những gì và không làm những gì. Khi tôi nói cho ai hoặc nhóm nào đó thời gian và cách thức  thi hành hay không thi hành một việc cụ thể nào đó, tôi đang làm một hành vi cai quản. Tuy có nhẹ nhàng hay khéo léo thế nào đi nữa, sự việc rõ ràng là tôi ấn định ý muốn của mình trên những người khác: đó là việc phải làm hay không được làm vì tôi muốn như thế.

Nếu trái lại, tôi đề ra những lý do cho người khác [hay những người khác], giải thích tại sao một hành vi cần phải làm hay không được làm, tôi đang thi hành một hành vi sinh động hóa, hay nói cách khác, “động viên hữu hiệu”, “thuyết phục”. Điều tôi đang làm đây là tác động trên anima [tâm hồn, con người nội tâm] của người/những người khác, tìm cách để người ấy/họ làm hay không làm điều gì đó một cách tự do và chủ động.

Ở trên chúng ta vừa thấy quyền bính là sự phục vụ giúp cho con người thăng tiến. Vậy chúng ta hỏi: cai quản có làm cho con người thăng tiến không? Cai quản chú tâm làm sao cho công việc được thi hành, giải quyết những vấn đề, không phải là [trực tiếp] giúp con người tăng trưởng theo đúng nghĩa. Đúng hơn, những quyết định được lấy hoặc những lệnh truyền được ban ra đặt con người hay các cộng đoàn vào một vị thế tốt hơn để tăng trưởng. Chẳng hạn, khi vâng lời làm điều được chỉ bảo, một tập sinh làm điều đúng; nhưng nếu thày còn phải học biết lý do tại sao mình phải làm điều ấy thì mới biến điều đó thành của mình và là một hành vi xác tín. Khi một thành viên làm cho cộng đoàn bị xáo trộn, việc thuyên chuyển thành viên đó sang một cộng đoàn khác (qua “bài sai”, “thư vâng phục”) có thể là một cơ hội để đương sự phản tỉnh và thay đổi lối sống, cùng lúc đó, giúp cho cộng đoàn hội viên ấy rời đi có được một bầu khí an bình giúp cộng đoàn ấy xây dựng lên.

Tuy nhiên, thông thường cách hữu hiệu nhất giúp con người tăng trưởng là sinh động. Tại sao thế? Bởi lẽ con người ngày nay ngày càng ý thức về phẩm giá của mình như là nhân vị và muốn được đối xử với sự tôn trọng. [7] Đã qua rồi mô hình bề trên truyền lệnh và bề dưới cúi mặt làm theo mà không biết được lý do [!] bởi lẽ không những mọi hành động đều hướng tới một cứu cánh [Aristote], mà mọi hành vi nhân linh để là nhân linh đều mang yếu tố “hiểu biết” và “tự do” và từ đó, chủ thể hành động chịu trách nhiệm về hành vi đó [chứ không chỉ đổ lỗi ‘là do bề trên truyền lệnh’]. Công đồng Vatican II khẳng định cho chúng ta:

Vậy phẩm giá của con người đòi họ phải hành động theo sự chọn lựa ý thức và tự do, nghĩa là chính con người được thúc đẩy và hướng dẫn tự bên trong, chứ không do bản năng mù quáng hay cưỡng chế hoàn toàn bên ngoài. Con người sẽ đạt tới phẩm giá ấy một khi nhờ tự giải thoát khỏi mọi kiềm tỏa của đam mê, con người theo đuổi cùng đích của mình trong sự tự do chọn lấy điều thiện và khôn khéo cũng như thực sự tạo cho mình những phương tiện thích ứng.  [GS 17]

Vì vậy, khi đưa ra lý lẽ để ai đó làm việc gì, Bề trên tôn trọng trí khôn và tự do của họ. Bề trên xây dựng họ và làm cho họ chịu trách nhiệm về hành vi của họ. Khi có được điều này, họ sẽ làm không phải để làm vui lòng bề trên hoặc vì họ e ngại bất tuân phục lệnh truyền của bề trên, nhưng bởi vì họ biết và xác tín rằng đó là điều hợp lẽ phải làm. Vì thế, sinh động hóa là cách thức tiêu biểu qua đó Bề trên giúp con người thăng tiến, trưởng thành, biết đứng trên đôi chân của mình.

Một cách diễn tả khác về trách vụ sinh động hóa là làm sao để cho thành viên tự nội giới hóa giá trị của hành động mà họ mong đợi/được yêu cầu thi hành. Roger Haight[8] trong chương nói về phân biệt đạo giáo và tôn giáo đã đề ra ba cấp bậc của sự trưởng thành đạo đức và tôn giáo: tiền-quy ướcquy ước và hậu-quy ước. Theo đó, một người làm một hành vi nào đấy mà nhắm đến phần thưởng được ban cho hoặc để tránh hình phạt sẽ áp đặt trên mình [được hưởng thiên đàng/tránh xa hỏa ngục; được phần thưởng vật chất/bị chế tài nếu vi phạm luật lệ], còn ở trong mức độ tiền-quy ước. Người hoàn toàn làm theo quy định của tập thể/đoàn thể đời hay đạo] chỉ vì đó là quy định của nhóm/tập thể thì ở trong mức độ quy ước. Họ được tập thể tiếp nhận, sống hài hòa, và được coi là tốt [!]. Nếu họ đi ra ngoài quy định của  tập thể, thì bị kết án là phá hoại đoàn kết, sự hiệp nhất. Lối sống hài hòa, dĩ hòa vi quý được trân trọng.  Nhưng nếu mãi mãi ở trong mức độ đó, thì họ chỉ mới đạt tới mức độ phát triển đạo đức hay tôn giáo ở cấp quy ước. Sự trưởng thành của một hữu thể nhân linh hệ tại ở mức đó họ “nhận ra” và đón nhận các “giá trị” tự nội [in themselves] như là lời mời gọi [call] để họ tự nguyện đáp trả và sự đáp trả này đôi khi phải trả giá.

Vấn đề này liên quan tới cả một tiến trình đào tạo mà con tin rằng các bề trên đã luôn lưu tâm để có được những tu sĩ tốt trong hội dòng của mình. Song đó cũng là một thách đố rất lớn cho thế hệ tu sĩ trẻ gia nhập các hội dòng thời gian qua và mới đây và cũng là một trong những lãnh vực chính cần được bề trên sinh động hóa.

II- BỀ TRÊN, NGƯỜI SINH ĐỘNG

Nếu trách vụ sinh động hóa nhắm đến đối tượng là hữu thể nhân linh, lại là một hữu thể nhân linh chọn lựa lối sống thánh hiến, trọn lành, thì sinh động hóa hẳn mời gọi những người lãnh đạo thi hành quyền bính phải là:

  • Con người thiêng liêng [của Thần Khí]:

Sinh động hóa những con người sống đời sống thánh hiến và phục vụ sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội tiên vàn có bản chất là thiêng liêng. Vì thế Bề trên hẳn phải là con người thiêng liêng trổi bật trước những thành viên của hội dòng mình. Các vị trau dồi thái độ dễ dạy đối với Thần Khí, Đấng sinh động đệ nhất của toàn Dân Chúa và làm cho mình có khả năng phân định ý nghĩa của những thúc đẩy liên lỷ của Thần Khí trong đời sống cá nhân và cộng đoàn và qua khắp lịch sử. Khác với người sinh động trong thế trần, bề trên trong đời tu khi phục vụ sự sinh động biết rõ mình là cộng sự viên thấp hèn và là khí cụ dễ dạy của Thần khí, hầu giúp người khác sống trong tinh thần vâng phục được đâm rễ trong đức tin và đức ái hoàn hảo. Như vậy, việc đầu tiên ngài phải làm là hiến mình cách ngoan ngoãn cho Thánh Thần hằng sinh động liên tục. Ngài không bao giờ có thể cho người khác điều họ chờ đợi nơi ngài trừ phi ngài kinh nghiệm Thiên Chúa cách chân thật và sâu sắc. Khía cạnh này đáng được nhấn mạnh bởi vì có thể nói, đấy là cốt lõi khoa linh đạo của bề trên.

      Bề trên nhận ra Thiên Chúa hiện diện trong đời sống của mình và của những người mình phục vụ, sống kinh nghiệm Chúa Ki-tô của riêng mình trong Giáo Hội, cảm nhận kinh nghiệm này như mầu nhiệm, như sự hiệp thông tất cả mọi sự làm việc cho nước trời. Các vị cũng tin và cảm nghiệm Đức Maria là người tín hữu đầu tiên, người thánh hiến đều tiên, hình ảnh cách thức là Ki-tô hữu trong Hội Thánh phục vụ việc loan báo Tin Mừng.

Và rồi, các vị sống và được thôi thúc bởi đức ái mục tử khiến các vị nên nhạy cảm và chú tâm tới mọi hoàn cảnh tác động đến sự tăng trưởng của thành viên, giúp cho họ nhận thức được các dữ kiện đồng cộng tác vào sự tăng trưởng này hoặc có phương hại cho sự tăng trưởng đó.

  • Con Người phục vụ theo Tin Mừng:

Một số bản văn Tin Mừng soi sáng cho chúng ta:

i- Ga 21, 15-17: Đức Giêsu nói cho Simon Phê rô, “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến thày hơn những người khác yêu mến không?” Ông trả lời: “Vâng, lạy Thày, Thày biết con yêu mến Thày.” Đức Giêsu nói với ông: Hãy chăm sóc các chiên con của thày.” Lần thứ hai Đức Giêsu nói với ông: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến thày không?” Ông trả lời: Vâng, lạy Thày, Thày biết con yêu mến Thày.” Đức Giêsu nói với ông: “Hãy chăm sóc các chiên mẹ của thày.” Lần thứ ba, Đức Giêsu nói: “Simon, con ông Gioan, con có yêu mến thày không?” Phê rô buồn vì Đức Giêsu hỏi mình lần thứ ba, “Con có yêu mến thày không?” Vì thế, ông nói với ngài: “Lạy Thày, Thày biết hết mọi sự; Thày biết con yêu mến Thày!” Đức Giêsu nói với ông: “Hãy chăm sóc các chiên mẹ của Thày.”

Đây rõ ràng là một bản văn nói về người lãnh đạo, bởi lẽ nói đến việc Đức Giêsu đặt Phêrô chăm sóc Giáo Hội. Quyền bính được ủy thác cho người yêu mến Chúa Giêsu thật sâu đậm. “Ta phải liên li nhắc nhở mình rằng quyền bính của ta khôn gì khác hơn là hành vi yêu mến Đức Giêsu và yêu mến anh em em mình trong Đức Giêsu. Tiếp đến, đây không chỉ là về việc yêu mến Đức Giêsu hay không, nhưng là có yêu mến Ngài hơn những người khác yêu mến Ngài. Sự kiện là dẫu cho ta có nhiều khiếm khuyết , Chúa vẫn ủy thác cho ta quyền bính, mời gọi bề trên yêu mến hơn nữa. Và điều đó mời gọi thật nhiều đức khiêm nhường nơi những con người được ủy thác quyền bính. Và sau cùng, Đức Giêsu ủy thác Giáo Hội cho Phêrô. Thực vậy, tới ba lần, Đức Giêsu nói cho Phê rô: “Hãy chăm sóc chiên con/chiên mẹ.” Vậy, quyền bính là lời mời gọi trở thành mục tử như Đức Giêsu: người mục tử nhận biết, kêu gọi đích danh, hướng dẫn, nuôi dường, che chở, chăm sóc kẻ lầm đường, hiến mạng sống cho tất cả. Nói tắt, ai được đặt trong vai trò quyền bính được mời gọi trở thành mục tử nhân lành theo gương Chua Kitô, vị Mục Tử nhân lành.

ii- Mt 23, 8-11: “Anh em không được để được gọi là “thày” bởi vì anh em là anh em với nhau và chỉ có một người Thày. Anh em không được gọi bất kỳ ai ở dưới thế là “Cha” bởi vì anh em chỉ có một Cha trên trời. Anh em cũng không được gọi mình là “Lãnh Đạo” bởi vì anh em chỉ có một lãnh đạo là Đức Kitô. Người lớn nhất trong anh em phải là người tôi tớ của anh em.”

Giữa những người Do Thái, tên gọi “thày” là “rabbi”, và rabbi là người có những người đi theo, tức là, một nhóm môn đệ đồng hành với mình suốt mọi nơi, học hỏi từng lời nói và cử chỉ, và quảng bá giáo thuyết và hành xử của mình. Vậy, Đức Giêsu nói cho các tông đồ rằng họ không được như các rabbi, có trường phái tư tưởng và cách sống và môn đệ riêng của mình. Vì thế, điều này có nghĩa là những ai trong vị thế cầm quyền trong Giáo Hội như là thày dậy, người cha và người lãnh đạo tất cả đều là môn đệ Đức Giêsu cùng với mọi người khác: họ đều là anh em với nhau như là anh em Kitô hữu với nhau. Cùng lúc đó, nếu họ là thày dạy, là người cha và lãnh đạo, họ là như thế không phải tự mình, nhưng là nhân danh Đức Giêsu hoặc Chúa Cha. Họ đại diện cho Đức Giêsu hoặc Chúa Cha. Vatican II nói về các Bề Trên là “những người  thay cho Thiên Chúa.” [9] Nói khác đi, những ai cầm quyền không được nói và hành động nhân danh mình, nhưng là nhân danh Đức Giêsu và Chúa Cha của ngài. Đó là một trách nhiệm khủng khiếp và nó cho thấy người cầm quyền cần phải đặt mình vào trong khuôn khổ Đức Giêsu và Chúa Cha trong tư tưởng, lời nói và hành động.

iii- Gioan 13, 1-15:  Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người  yêu thương họ đến cùng. [Rồi Ngài rửa chân cho các môn đệ]. Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói: “an hem có hiểu việc Thày mới làm cho an hem không? Anh em gọi Thày là “Thày”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thày lá Thày, là Chúa. Vậy nếu Thày là Chúa, là Thày, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thày đã nêu gương cho an hem, để anh em cũng làm như thày đã làm cho anh em.”

Chúng ta không cần phải quảng diễn ý nghĩa của những lời ấy: chúng đã quá rõ. Quyền bính là việc phục vụ anh em mình do tình yêu sâu xa (“Ngài đã yêu thương họ cho đến cùng”) và do lòng khiêm nhường. Kiếu thống trị và cha chú [clericalism] không liên quan gì tới quyền bính. Đức Giêsu muốn phong cách thực hành quyền bính trong Giáo Hội phải rất khác với đường lối xã hội trần tục chủ trương. Thực vậy, ngài nói cho các tông đồ: “Anh em biết những người cầm đầu trong dân ngoại cai trị họ, và kẻ làm lớn trong họ thống trị họ. Anh em thì không được hành xử như thế; ai muốn làm lớn trong anh em phải trở thành người tôi tớ phục vụ.” [10] Cũng thế, trong lá thư thứ nhất, thánh Phê rô nhắn nhủ ba phẩm hạnh dành cho những ai được kêu gọi lãnh đạo cộng đoàn Kitô hữu: 1) “chăm sóc đàn chiên của Chúa trao cho mình, . . không phải do chịu đựng mà là tự nguyện; 2) không để mưu lợi bản thân; và 3) đừng thống trị trên những người thuộc quyền, nhưng hãy nên gương sáng cho đàn chiên.”

  • Khả năng sư phạm: Chúng ta thường nghe nói người lãnh đạo phải là người có đức [tố chất thiêng liêng] song cũng phải là người có tài [khả năng sư phạm lãnh đạo], hoặc nôm na hơn là người có tâm và có tầm. Thực vậy, Giáo Hội dạy ta rằng bề trên còn phải trau dồi cho mình khả năng sư phạm, theo nghĩa có những hiểu biết tâm lý, tiến trình trưởng thành tâm lý và tâm linh của con người, những phương pháp sư phạm mới, hoàn cảnh xã hội tác động và khả năng tương tác, thông truyền. Điều đó được diễn đạt thành:
  • Hết sức tôn trọng mọi người, dù tuổi tác hay hoàn cảnh họ thế nào và mở rộng lòng với họ. Bề trên cần nhận rằng hình thức tốt nhất để lấy quyết định trong cộng đoàn hiện nay không phải là theo mô hình truyền lệnh, qua đó, chỉ một người dù tài giỏi và khả năng đến mấy đi nữa, lấy quyết định. Cũng không phải là theo mô hình tham khảo, ngay cả khi thành viên cộng đoàn đều tham gia vào tiến trình lấy quyết định theo mức độ nào đó. Lẽ dĩ nhiên, những mô hình lấy quyết định này ngày nay vẫn còn có giá trị, chẳng hạn, khi cần phải có một quyết định khẩn cấp. Nhưng thông thường, và đặc biệt khi vấn đề liên quan tới các thành viên cộng đoàn, cách tốt nhất là hướng tới quyết định đồng thuận trong đó những khác biệt trong các ý kiến được nổi lên, được lắng nghe với thiện cảm và được san bằng bao có thể để đi tới một quyết định trong đó mọi người đều đồng thuận, ngay cả khi không đáp ứng hoàn toàn kỳ vọng của mỗi người trong từng chi tiết.

Đương nhiên, trách nhiệm của Bề trên là lấy quyết định cuối cùng, song, thần học hiệp thông hiện nay cho thấy mô hình hình tháp không còn là hợp thời mà là mô hình hiệp thông. Trách nhiệm của những vị lãnh đạo trong Giáo Hội không bao giờ là trách nhiệm đơn lẻ. Trong Giáo Hội, không hề có việc một người chịu trách nhiệm về tất cả mọi sự. Cũng thế, mọi trách vụ ủy thác không hề được ủy thác chỉ cho một người chịu trách nhiệm nhưng là cho nhiều người chịu trách nhiệm với thẩm quyền theo từng cấp. Mọi trách nhiệm đều có sự phân cấp và đan kết vào nhau.[11]

  • Khả năng mời gọi sự tham gia:

“Vị hữu trách thì có trách nhiệm đi đến quyết định cuối cùng, nhưng không tự một mình đi tới quyết định ấy . . song là qua việc trân trọng sự đóng góp đầy tự do nhất của mọi anh [chị] em mình . . Cộng đoàn chính là thực thể mà các thành viên làm nên. Vì thế, kích thích và động viên sự đóng góp từ từng con người để ai nấy cảm thấy mình có bổn phận đóng góp phần ... đức ái, khả năng và sự sáng tạo của mình là điều căn bản. Thực vậy, mọi nguồn lực nhân sự được kiện cường và được quy tụ vào trong dự án của cộng đoàn, động viên họ và tôn trọng họ” [12]

iii- Khả năng đối thoại: là kỹ năng sư phạm mà Bề trên cần trau dồi; biết thuyết phục một cách hiệu quả để đi tới một sự đồng quy. Đối thoại là phương cách đặc thù nhờ đó các ngôi vị thông giao với nhau và cùng nhau thông giao với Thiên Chúa, nhằm để hiểu biết và chu toàn thánh ý Ngài. Đối thoại với một người có nghĩa là có thể cho họ một câu trả lời thẳng thắn và chân thành mà không công thức hóa một phán đoán liên quan đến con người của họ.[13] Bề trên có khả năng đối thoại nếu bề trên thường xuyên sẵn sàng cho và tiếp nhận lại loại đáp trả ấy, và như thế thông truyền cho người khác rằng bề trên tiếp nhận họ, kính trọng họ vô điều kiện mặc dầu bề trên không đồng ý với quan điểm của họ. Nếu thiếu dự thế nội tâm này, thật sẽ vô ích để nói về năng động tập thể hay về những phương pháp thông giao khác. Không có dự thế nội tâm này, sự san sẻ quyền bính sẽ không ích chi.

Cùng lúc đó, toàn bộ cuộc sống người thành hiến là đi tìm và thi hành Thánh Ý Chúa. Vậy, đối thoại còn là đối thoái với Chúa theo nghĩa là đặt mình, như cá nhân và cộng thể, trong tình trạng tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần dẫn người thánh hiến nhìn cuộc đời theo cách thức Đức Kitô phục sinh đã nhìn xem; lượng giá và lấy những quyết định và hành động hợp với những tiêu chuẩn của Người; làm cho những ưu tiên của Người thành của mình; chống lại điều Người chống đối; đồng nhất chính mình với những tình cảm sâu xa nhất của Người. Bằng cách này Chúa Giêsu trở thành chuẩn mực tối hậu cho đời sống người thánh hiến trong một tiến trình liên tục tập luyện khiêm tốn. Bởi vì sự phân định luôn can dự đến một tiến trình của sự dễ dạy, hầu vị Thầy sống trong mình có thể hướng đạo và soi sáng cho mình; ý muốn của mình phải dễ dạy để mình có thể sẵn sàng được dẫn dắt trong các hoạt động hằng ngày của mình.

Vậy những người can dự vào tiến trình phân định ý Thiên Chúa cần những thái độ khác nhau. Hơn mọi thành viên khác, do thẩm quyền lấy quyết định sau cùng, bề trên đặc biệt cần phải thận trọng và kiên nhẫn trong giai đoạn tìm kiếm. Trong khí đó, khi thực thi những quyết định, bề trên cần mạnh mẽ và can đảm. Vì nếu Ý Chúa là quá rõ ràng và cụ thể trong Hiến Pháp hay Quy chế Hội dòng, thì cũng chẳng cần đi tìm làm gì.

  1. Vun trồng nghệ thuật lắng nghe: đối thoại luôn luôn là hai chiều, mà chiều ưu tiên trên hết lại là lắng nghe. Đây là một kỹ năng cần được luyện tập như một nghệ thuật và được diễn ra khi được trang bị bằng những thái độ:

Sẵn sàng tiếp nhận người khác vô điều kiện, dành cho họ không gian tự do để họ là chính mình, những gì họ muốn nói cũng như không muốn tỏ lộ, tránh suy diễn, phán đoán lập tức và tệ hơn là điều tra. Chấp nhận họ có những khả năng lẫn giới hạn, cả những tiên kiến/thành kiến, cách thức tương quan và đối thoại, những tổn thương, thiếu sót, bộ mặt [masks], và luôn tin tưởng sự chân thực, khao khát đón nhận chân lý và sự thiện của họ để giúp họ vươn lên.

Trong tâm thế cầu nguyện:  Bất kỳ cuộc trao đổi với anh chị em mình là những vấn đề bên ngoài, kể cả vật chất nữa, cũng luôn là một sự tỏ lộ thế giới nội tâm, một “mảng lịch sử thánh”, trong đó có sự hiện diện của Chúa, của một hành trình ơn gọi, với những trung thành pha lẫn bất trung . .  . Lắng nghe trao đổi như thế với cõi lòng như thế hẳn buộc bề trên phải đi kèm với kinh nguyện; tạ ơn vì những điều thiện người anh em mình đã làm được, hân hoan vui tươi dấn thân cho sứ mệnh . . .: “Lạy Cha, con cảm tạ cha vì đã tỏ lộ những điều này cho những người bé mọn . .” cũng dâng lên những lời kinh sám hối trước những yếu đuối sa ngã.

 Mời gọi thông tri: hết sức nhẫn nại, dần dần qua thời gian, Bề trên khai mở được cõi lòng bề dưới để họ thực sự chia sẻ cuộc sống, cùng họ duyệt lại hành trình ơn gọi thánh hiến, khơi lên những nền tảng tối hậu, những cam kết đã từng thề thốt, lưu tâm đến những gì cốt yếu nhất trong đoàn sủng hội dòng; và bề trên cũng hiệp thông trong sự chia sẻ thiêng liêng ấy với kinh nghiệm của chính bản thân.

Mời gọi duyệt lại dấn thân tông đồ: Hoạt động tông đồ của người tu sĩ luôn mang chiều kích cộng đoàn, nhân danh cộng đoàn, việc trao đổi này cũng dễ. Song điều quan trọng không phải là những công tác đã hoàn thành cho bằng những giá trị đã được hấp thụ, sự hòa nhập vào đời sống cộng đoàn, tinh thần thôi thúc bên trong.

Là một bề dưới, con đã chứng kiến và cũng từng được các bề trên “trung cấp” chia sẻ về khuynh hướng hành xử theo kiểu quyền hành qua lời nói và cách cư xử của Bề trên thượng cấp đối với người khác mà quý ngài không biết. Sự kiện hiểu được là chúng ta sống và làm việc trong một xã hội quyền hành theo đó ngay từ những năm đầu, chúng ta được chỉ bảo là phải làm cái này hoặc không được làm cái nọ, chúng ta hiền lành vâng phục vì sợ hoặc không muốn gây ra bất bình hoặc sợ bị phạt gì đó. Chẳng hạn, mỗi lần bề trên chúng ta lập luận với ai, chúng ta nói rằng: “Đức Thánh Cha nói thế này . . vì thế, chúng ta phải làm thôi . . Tổng Tu Nghị/CôngNghị đòi hỏi chúng ta làm điều này, vậy chúng ta phải làm thôi . . Bề Trên Tổng Quyền yêu cầu chúng ta làm điều này, vậy, chúng ta hãy thực thi thôi . .”, chúng ta đang sử dụng đường lối quyền hành, và quả thực, chúng ta nại tới quyền bính sao cho việc đó phải được thực hiện; chúng ta gián tiếp nói rằng một vị thẩm quyền –Đức Thánh Cha, Bề Trên Tổng Quyền, Tổng Tu Nghị . . .—đã nói và vì thế, việc đó phải làm.

Chúng ta thấy rõ mình cũng thường đi theo đường lối quyền hành này trong các nhà đào luyện, trong đó, do bởi tuổi tác và kinh nghiệm giữa các Bề Trên và những ai đang được đào luyện, các Bề Trên không đưa ra những lời giải thích nhưng chỉ nói cho các đệ tử, tiền tập sinh, tập sinh và các tu sĩ trẻ điều họ phải làm và răn đe họ nếu họ làm sai. Chúng ta thực sự không nỗ lực mấy để đối thoại với họ, thấu hiểu những động lực của họ, thách đố họ nếu cần, lý lẽ cặn kẽ với họ. Vậy, không ngạc nhiên mấy khi đôi lúc chúng ta thấy họ hành xử vì sợ, vì để uốn mình theo khuôn luật lệ, hoặc để tránh rơi vào phiền toái hoặc để làm Bề Trên vui lòng. Liệu chúng ta có thể thực sự coi đường lối đó mang tính đào luyện hay không? Xin trích dẫn nhận định của một cựu giáo tập/tập sư:

 

Nền huấn luyện trong nhiều dòng khiến các ứng sinh và các tu sĩ sau một thời gian trở nên nhanh nhạy tìm ý Bề trên hơn tìm Ý Chúa, sợ con người hơn sợ Thiên Chúa. Đó chính là vì bề trên và nhất là những người huấn luyện cũng không thực sự có chiều sâu thiêng liêng, nên sinh hoa kết trái như thế. Anh em hội viên trẻ không thấy mẫu gương tiền nhân có chiều sâu nội tâm, không thấy các vị nhanh nhạy đọc ra ý Chúa, mà chỉ thấy những nguòi có chút khả năng điều hành. Khi gặp khó khăn, họ không thấy nới các vị tiền bối như là những con người thiêng liêng làm chỗ dựa tinh thần.

iv- Biết san sẻ trách nhiệm/quyền bính

  • Mời gọi san sẻ trách nhiệm: Cần nhiều ân điển và tác vụ để xây dựng cộng đoàn và quyền bính là một trong những ân điển này. Nhưng theo những phạm vi và những tình huống khác nhau, người có quyền bính phải được trợ giúp do những người san sẻ việc thực thi những trách nhiệm này. Trách nhiệm hàng đầu của bề trên là xin người khác chia sẻ. Bổn phận đặc biệt của những người có quyền là kích thích mọi người quan tâm và tham gia tích cực. Đây là phương cách thực tiễn truy nhận sự trưởng thành của các cộng sự viên của bề trên và nó biểu lộ tinh thần gia đình như nó được tìm thấy nơi sự hiệp thông của một nhóm các thành viên cùng làm việc để đạt được cùng những mục tiêu.
  • Cung cấp những động cơ cho việc tham gia. Bề trên và các thành viên phải hiểu đúng sự tham gia có nghĩa là gì. Trong bối cảnh Giáo Hội, động cơ làm nền tảng cho mọi sự san sẻ quyền bính là: “Điều thuộc về một người thì thuộc về mọi người”, dẫu vì những lý lẽ khác nhau và bằng những cách thức khác nhau. Vậy, không ai còn có thể được đóng kín trong chính mình và thi hành công việc của mình cách cá nhân chủ nghĩa.
  • Áp dụng nguyên tắc bổ sung bằng việc công nhận giá trị độc đáo của các cá nhân và cộng thể: “Quyền bính thuộc bất kỳ loại nào là thuộc mọi bình diện phải để cho cấp thấp hơn và các cá nhân có thể hành động và quyết định.”[14] Sự bổ sung tự bản tính đòi phải tản quyền, vốn là “một sự tự lập đúng đắn và có trách nhiệm và như thế là một sự phân phối quyền bính chính đáng giữa những cơ quan cai quản khác nhau.” Các thành viên phải cùng nhau làm việc trong khi thực thi các hoạt động của mình và đem lại sự phục vụ đa dạng bởi vì những hoàn cảnh thường phức tạp, những vấn đề và các giải đáp thật rắc rối. Theo nghĩa này sự tham gia tích cực có nghĩa là chịu trách nhiệm chung về ơn gọi và sứ mệnh hội dòng.
  • Đồng hành với trách nhiệm được san sẻ: Nghệ thuật của bề trên là phải thấy rằng san sẻ trách nhiệm được thực thi đúng đắn. Ngài dùng quyền bính để đảm bảo rằng thế quân bình của hiệp nhất không bị đảo lộn. Cách bề trên can thiệp vào các hoạt động của các thành viên hẳn sẽ không gây ra bất an hay chống đối nếu bề trên để cho mỗi người có lãnh vực tự lập riêng.

Sự kiện là có những vai trò khác nhau giả định rằng các thành viên biết cách san sẻ trách nhiệm. Thông thường họ đều biết thế. Nhưng bề trên sẽ thấy khả năng này có nhiều mức độ khác nhau và có những tình huống khác nhau. Chẳng hạn, một số người sẵn sàng tham gia hoàn toàn; số khác chỉ tới một mức độ nào đó; và có những người hoàn toàn không thích. Một số thành viên giữ im lặng và không thông tri, nhưng đồng ý cho những người khác tham gia. Cộng thể chấp nhận họ theo đúng thực trạng của họ với một sự thỏa thuận ngầm. Bề trên đừng ép. Phản ứng có thể rất tiêu cực.

Bề trên cũng có thể gặp trường hợp một thành viên không chút im lặng, nhưng công khai gây hấn và bất đồng với mọi hình thức tham gia. Đôi khi nhóm có một tinh thần cộng thể tốt đẹp đến nỗi có thể tiếp thu một người như thế mà không gây tác hại nào. Nhưng tình trạng có thể đe dọa cho đời sống cộng thể. Trong trường hợp đó bề trên có nhiệm vụ phải nghiên cứu những phương cách và trao đổi hầu đi tới một giải pháp dứt khoát.

Đào tạo cho có khả năng: Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh rằng khả năng tham gia có thể được phát triển. Qua giòng thời gian, điều này có thể thực hiện được rong khung cảnh cộng đoàn mời gọi trao đổi và thông hiệp [họp cộng đoàn]. Chính nơi đây mà việc đào luyện ban đầu và liên tục thường được thực hiện, dưới trách nhiệm của bề trên các cấp.[15]

Thực vậy, đào tạo liên tục diễn ra trước tiên nơi chính cộng đoàn địa phương trước khi là những khóa tu nghiệp chuyên môn. Thực vậy, chính đời sống thánh hiến và hoạt động tông đồ hàng ngày là môi trường thực tế đào tạo thường hằng. Nhiệm vụ người sinh động là làm sao các dự án tông đồ mang đầy tính chất đào tạo [formative] thành viên chứ không chỉ là để hoàn thành công việc.[16] Trách nhiệm này cần phải được triển khai theo một đường lối có tổ chức, nhất là trong những cộng thể có các thành viên sống chung nhưng không có việc tông đồ chung; hoặc là trong những nơi mà đời sống của cộng thể tu sĩ đúng nghĩa phải được hài hòa với một việc tông đồ có nhiều cộng sự viên giáo dân. Bề trên thượng cấp hẳn phải có trách nhiệm cung cấp những chỉ dẫn thích hợp để cộng đoàn địa phương có được những kế hoạch tông đồ mang tính đào tạo.

Chính ở đây mà ta thấy được khả năng sinh động của người lãnh đạo. Bề trên không phải là người làm hết tất cả mọi sự, lấy mọi quyết định từ cấp thấp đến cấp quan trọng nhất, hoặc sẽ là người can dự vào mọi tiến trình hoạch định lẫn hành động. Nếu bề dưới là người chưa có đủ khả năng thi hành sứ vụ ấy, nhiệm vụ của bề trên không phải là nhảy vào thay thế, mà là làm sao để người bề dưới đó được tăng trưởng, đủ sức làm được công việc ấy, họ học biết được cách làm.

III- THI HÀNH VIỆC SINH ĐỘNG HÓA [ANIMATION IN PRACTICE]

Sau đây, xin mạn phép liệt kê một cách thứ tự áp dụng việc sinh động hóa ra sao cho cộng đoàn.[17]

 

  1. Hình thành nên một đội ngũ cố vấn có khả năng [best team]: Như đã nói ở trên, bề trên [có quyền bính/lãnh đạo] không phải là người toàn năng để rồi mọi lãnh vực mình đều có thể kiêm nhiệm và xuất sắc, hơn nữa, dù cho khả năng của ngài là xuất sắc đi nữa do kinh nghiệm mục vụ qua giòng thời gian, ngài cũng chẳng đủ thời gian để làm mọi việc ở mọi nơi. Giáo Luật và Hiến Pháp các dòng quy định bề trên mọi cấp đều có ban cố vấn của mình và liệt kê ra những trường hợp buộc phải có sự đồng thuận của các thành viên ban cố vấn. Qua đó, ta thấy việc sinh động hóa là dành cho cả ban cố vấn của bề trên.

Để lập được ban cố vấn này, hẳn chắc rằng các bề trên mong muốn đó là một ban cố vấn làm việc sao cho có hiệu quả. Muốn như thế, chính tâm thức của bề trên phải là rộng mở [open mind] để sẵn sàng cho các cố vấn mình mang đến những sự khác biệt, những cái nhìn khác nhau do những tính tình, bối cảnh giáo dục, gia đình, khả năng chuyên môn và kinh nghiệm tông đồ khác nhau.

Bên cạnh đó, xây dựng được sự tín nhiệm giữa mình và từng thành viên ban cố vấn cũng như giữa các thành viên với nhau là rất quan trọng. Các thành viên ban cố vấn thấy mình được trân trọng trong khả năng và giới hạn của mình, sẵn sàng trao đổi thẳng thắn với nhau về mọi vấn đề. Đó là thành quả đầu tiên của việc sinh động hóa. Bầu khí họp mặt trao đổi luôn là bầu khí tích cực, vì nhận ra Thiên Chúa đang sử dụng những dụng cụ mọn hèn nhân loại để góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng và cứu độ thế gian.

 

  1. Nắm rõ hiện trạng của Hội Dòng mình trong xã hội đương thời: Cùng với các thành viên hội dòng, với ban cố vấn của mình, bề trên bao có thể phải nắm vững được hiện trạng của cộng đoàn mình. Từ ngữ hiện nay gọi là SWOT là chữ đầu của những chữ Strengths [Ưu điểm], Weaknesses [Khuyết điểm/điểm yếu], Opportunities [Cơ hội] và Threats [Thách thức], trong đó, nguồn lực nhân sự [S] là điều quan trọng nhất và cần được trân trọng nhất. Thiên Chúa không đòi hỏi ta phải làm những gì quá sức hiện trạng của mình nhưng mời gọi mình luôn vươn lên. Các ưu điểm cần được phát huy và các khuyết điểm cần phải được giảm thiểu. Trong khi đó, cần tận dụng những cơ hội môi trường, hoàn cảnh đem đến cũng như biết làm giảm đi hay né tránh được những nguy cơ đe dọa đời sống và sứ mệnh của cộng đoàn.
  2. Đề ra được một tầm nhìn (Vision) chung và lộ trình khung để đi tới: Đây là điểm tối quan trọng để cộng đoàn được tăng trưởng. Câu hỏi “Tăng trưởng gì?” là muốn nói tới tầm nhìn. Người lãnh đạo xuất sắc là người đề ra được một viễn đích nhắm để động viên toàn bộ nguồn lực hướng tới. Cụ thể hơn, bề trên mong muốn cộng đoàn và cá nhân tăng trưởng đến mức nào đời sống thiêng liêng, huynh đệ và tông đồ, đó chính là tầm nhìn.

4- Cùng đội ngũ cố vấn hình thành nên được một kế hoạch tổng thể mang tính chiến lược: Tầm nhìn không sẽ mãi chỉ là “ước mơ” hay “giấc mơ” nếu không được triển khai thành một kế hoạch. Tùy theo từng cấp, các bề trên là người, cùng với đội ngũ cố vấn của mình, hình thành nên được một kế hoạch tổng thể mang tính chiến lược [những mục đích nhắm tới và những điều kiện để đạt tới được mục đích ấy].

4- Phân trách nhiệm cụ thể để cấp dưới lập kế hoạch hành động triển khai kế hoạch tổng thể đó với kế hoạch hành động với những quyết định cụ thể cấp dưới phải lấy [What, When, Where, How]. Bề trên sẽ không làm thay cho họ mà là tạo điều kiện cho họ để chính họ hình thành kế hoạch hành động ấy [nhân sự, thời gian]. Câu hỏi được đặt ra là nếu bề dưới không biết triển khai thành kế hoạch hành động thì sao? Bề trên cũng không làm thay mà là sẽ đào tạo /động viên họ để họ biết làm, bởi vì chính họ sẽ là người thi hành các kế hoạch đó.

5- Chịu trách nhiệm về quyết định tổng thể: Bề trên sẽ đồng hành để bảo đảm để bảo đảm kế hoạch hành động được thực hiện, và điều chỉnh sau lượng giá. Điều đó có nghĩa rằng, tuy có phân công [và trao trách nhiệm, chia sẻ quyền bính], bề trên vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Các bề dưới bảo đảm có sự thông truyền các kế hoạch, việc thi hành và lượng giá cho bề trên. Sẽ không có chuyện “đã giao cho tôi rồi thì giao hẳn cho tôi chứ!” theo nghĩa bề dưới không cần tường trình/báo cáo. Sự can thiệp của Bề trên là lúc đang hoạch định kế hoạch, nhất là kế hoạch tổng thể hơn là kế hoạch chi tiết. Những bề trên can thiệp rất sâu vào lúc lập kế hoạch hành động và còn can thiệp vào tiến trình hành động, sẽ làm cho bề dưới nhụt chí, thụ động, mất lửa nhiệt tình, sáng kiến và chịu trách nhiệm.

6- Định kỳ lượng giá: Như chúng ta đã nói, đời sống thánh hiến là để thực thi kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Kế hoạch ấy được tỏ lộ cho chúng ta. Nhưng ngài nói cho chúng ta qua nhiều cách thức. Ngài nói cho chúng ta qua những cảm nhận và ước muốn, qua tính tình chúng ta và qua những tài năng ngài ban cho chúng ta, qua hoàn cảnh và những biến cố xảy ra trong cuộc đời chúng ta, qua những con người chúng ta tương tác. Và nhất là qua kế hoạch ngài dành cho ta trong Hội dòng với sứ mệnh được Giáo Hội ủy thác. Vấn đế là ta không luôn luôn dễ nhận ra được điều Chúa đang nói. Chúng ta có thể bị cảm xúc lôi kéo sai trệch và không khách quan lắng nghe điều Chúa đang nói cho ta qua những cách thức này; chúng ta bị giằng xé giữa tiếng gọi của Chúa mời ta vượt lên trên bản thân và sự yếu đuối của mình luôn có khuynh hướng ghìm chúng ta lại. Lập kế hoạch cá nhân và cộng đoàn là cách thức chúng ta cùng ngồi lại và nhận ra tiếng Chúa gọi mình dấn thân trong hoàn cảnh cụ thể. Các bề trên là người trung gian, cùng với cộng đoàn để xem Chúa gọi mình dấn thân cụ thể trong không gian và thời gian như thế nào. Tuy nhiên, không có kế hoạch nào con người làm, dù với thiện chí, tâm trong sáng và nhiều kinh nghiệm mục vụ tông đồ bao nhiêu nữa là hoàn hảo cả. Đó là chưa nói đến những thay đổi mau chóng của thời cuộc, của đối tượng thụ hưởng, và cả yếu đuối con người khiến cho kế hoạch tổng thể lẫn hành động đều cần được duyệt xét và điều chỉnh nếu cần. Lãnh đạo cộng đoàn thăng tiến nhờ những buổi lượng giá các kế hoạch như thế.

  1. Toát yếu tiến trình lấy quyết định:
  • Giai đoạn thông tri và san sẻ thông tin về vấn đề có tầm quan trọng lớn lao;
  • Một thời gian dài suy tư trước nhan thánh Chúa và học biết điều thuận điều nghịch;
  • Dâng kinh nguyện cộng thể và cá nhân cho ý hướng này;
  • Giai đoạn phân định và cân nhắc chín chắn để quyết định xem điều gì làm vinh danh Chúa hơn;
  • Giai đoạn trong đó những nhận xét của các thành viên hội nghị đồng qui và lấy quyết định và đặt ra những bước để thực thi nó [What, Who, When, Where, How].

Kính thưa quý Bề trên,

Giáo hội, cộng đoàn Dân Chúa, bề dưới luôn trân quý sự phục vụ quyền bính, sinh động hóa này của các Bề trên. Tự trong thâm tâm, họ hẳn tri ân các bề trên đã làm cho họ tăng trưởng trong đức tin, đức ái và sự phục vụ khi giúp họ phân định và tìm ra Thánh Ý Chúa. Cũng có thể có Bề trên ở đây có khi lại không cảm thấy được như thế như có vị bề trên chia sẻ: nhiệm vụ của ngài như là lính cứu hỏa, dập tắt lửa chỗ này, dập tắt lửa chỗ kia [chiến tranh trong cộng đoàn đòi bề trên giải quyết]. Vất vả khó nhọc như thế nên phần lớn các vị đều đong đếm những ngày tháng cuối cùng của mình xong nhiệm kỳ [!]. Chắc chắn, thi hành quyền bính với tất cả đòi hỏi phục vụ khiêm tốn cũng là một gánh nặng. Bề dưới chúng con hiểu rõ điều này vì nó gắn liền với thực tại sống động của quyền bính.

Song, cũng theo kinh nghiệm của nhiều vị đã từng nắm trọng trách trong hội dòng, chỉ khi nào nhìn nhận quyền bính như là sự phục vụ những anh em mình tăng trưởng, hẳn Bề trên mới tìm thấy được niềm vui, ý nghĩa và sự thành tựu trong vị trí quyền bính.[18] Ước mong quý Bề trên mãi mãi là những mục tử biết chăm sóc đoàn chiên của Chúa để đoàn chiên được sống và sống dồi dào.

 

[1] Việc phục vụ của quyền bính, 1.

[2] Việc Phục Vụ của Quyền Bính…, 20.

 

[3] Việc Phục Vụ của Quyền Bính …, 25.

[4] Sđd.

[5] Việc Phục Vụ của Quyền Bính, 13.

[6] Việc Phục Vụ của Quyền Bính, 20. Chính khi đó quả là không thể thiếu được sự quân bình của những người có quyền bính, tỏ lộ qua khả năng đón nhận những khía cạnh tích cực của từng người và sử dụng cách tốt nhất thế mạnh của từng người.

[7] Những phương tiện truyền thông mới mẻ và mỗi ngày một thuận tiện hơn giúp con người theo dõi được các biến cố cũng như phổ biến hết sức mau lẹ và rộng rãi những cách cảm nghĩ và suy tư, do đó chúng gây nên nhiều âm hưởng vang dội có liên quan với nhau [GS 6]. Những biến đổi về tâm lý, luân lý và tôn giáo. Sự thay đổi tâm thức và cơ cấu thường làm cho con người bất đồng ý kiến về những giá trị đã được chấp nhận, nhất là nơi những người trẻ là lứa tuổi đôi khi thiếu nhẫn nại; hơn nữa vì lo âu, nên họ mới nổi loạn, và vì ý thức tầm quan trọng của riêng mình trong đời sống xã hội, nên họ mong muốn sớm được dự phần vào đời sống xã hội hơn. Do đó, nhiều khi cha mẹ và các nhà giáo dục càng ngày càng gặp nhiều khó khăn trong việc chu toàn bổn phận [GS 7]. Cuối cùng bản chất tri thức của nhân vị được kiện toàn và phải được kiện toàn nhờ sự “hiểu biết”. Chính sự hiểu biết lôi kéo một cách dịu dàng tâm trí con người tìm kiếm và ái mộ những gì là chân, là thiện. Rồi nhờ thấm nhuần sự hiểu biết mà con người được đưa từ thế giới hữu hình tới thế giới vô hình. Hơn hẳn những thế kỷ trước, thời đại chúng ta càng cần đến sự hiểu biết để tất cả những khám phá mới của con người mang tính chất nhân bản hơn [GS 15].

[8] Roger Haight, Tôn giáo là gì?

[9] Perfectae Caritatis, 14.

[10] Mt. 20,25-27.

[11] Ý thức mới về Giáo Hội Học [ấn bản Việt ngữ, Dẫn Nhập của các dịch giả Nguyễn văn Phương, Phan tấn Thành OP, Vũ văn Thiện, Mai Đức Vinh, tr.xii]: “Bộ Giáo Luật cũ (1917) nhấn mạnh đến cơ cấu pháp lý của Giáo Hội, với sự chỉ huy chặt chẽ, quy củ. Giáo Hội được quan niệm như một kim tự tháp: ở dưới đáy là các giáo dân, lên dần dần đến các giáo sĩ, rồi tới các Giám Mục với Giáo Hoàng ở chóp đỉnh, tập trung  mọi quyền hành. Mọi hoạt động đều bắt đầu từ lệnh ở trên ban xuống, cấp dưới chỉ răm rắp thi hành. Công đồng Vatican II đã muốn trình bày hình ảnh Giáo Hội hợp với Kinh Thánh hơn. Đành rằng Giáo Hội là một tổ chức có phẩm trật, nhưng trước tiên, Giáo Hội là một mầu nhiệm và một sự hiệp thông. Trong Giáo Hội, mỗi người tín hữu, dù ở địa vị nào, cũng đều có một số quyền lợi và nghĩa vụ nhằm hoạt động xây dựng Nước Chúa

[12] Việc Phục Vụ của Quyền Bính …, 20.

[13] Chrys Saldanha, “Sửa lỗi huynh đệ” trong Khóa Thường Huấn cho Bề Trên: Khi sửa lỗi, dừng ở hành vi chứ không phán đoán về nhân cách của người được sửa lỗi.

[14] HL 127

[15] x. HL SDB 54

[16] X. Ban Mục vụ Giới Trẻ Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ, Sinh động viên trong Nhóm Trẻ, (Roma, 1987) tr. 74-89.

[17] X. Sđd. tr. 18.57. 105-110.

[18] Chrys Saldanha, Khóa Thường Huấn Bề Trên, K’Long, 2016.

Nguồn: http://www.betrenthuongcap.net/

 Sr. Charlotte Sumbamanu Masenga là Bề Trên Tổng Quyền Hội Dòng Chị em Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu tại Kinshasa, Congo.

Cử nhân ngành truyền thông xã hội, Sr Charlotte đã tích cực tham gia vào việc sáng lập và điều hành Đài phát thanh truyền hình Công giáo tại Elykia với tư cách là Giám Đốc điều hành chương trình.  

Nhập đề 

Nhiều mô hình xã hôi học trong việc điều hành đã thường xuyên ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thực thi quyền bính trong Giáo Hội và các Dòng tu. Ở đây, ta chỉ cần nhớ lại thời đại Rôma, đến những nền quân chủ, đến những mối liên hệ phong kiến, đến kỷ luật Napoléon… cũng đủ.    

Một sự tiến hoá chóng mặt đã ghi đậm nét trên con người ngày nay, và đã làm cho con người chấp nhận những hình thức hiện hữu mới và cư ngụ trên thế giới quá ư thay đổi này. Hiện tượng toàn cầu hóa đã làm cho thế giới của chúng ta trở thành một «ngôi làng hành tinh», nhất là nhờ những tiến bộ ngoạn mục của những  công nghệ thông tin và truyền thông mới. Do đó, hiện tượng này áp đặt nền văn hóa và tâm tính riêng của nó. Chính vì thế, thậm chí người ta còn nói đến một nền đạo đức mới mang tính toàn cầu của thế giới. Và điều này có một tác động không nhỏ, không những trên thế giới, mà còn cả trong lòng Giáo hội, và đặc biệt, trong đời sống thánh hiến. 

Từ nền văn hóa mới này, chúng ta thấy nổi lên những khái niệm mới, như chia sẻ trách nhiệm, bình đẳng, tự trị, phát triển bền vững, khác biệt văn hóa, chất lượng đời sống, định hướng tính dục, phá thai an toàn, cha mẹ đồng tính, quyền lựa chọn cái chết, những Tổ chức phi chính phủ, xã hội dân sự, đối tác, thỏa thuận, thắng cuộc v.v...       

Những khái niệm này, không những diễn tả những khát vọng không chắc chắn, mà còn diễn tả những lệch lạc trầm trọng nhất của một ý thức hệ quá dễ dàng, đi ngược lại những giá trị của Do Thái giáo và Kitô giáo, chẳng hạn như chân lý, luân lý, lương tâm, ý chí, cha mẹ, đồng trinh, khiết tịnh, quyền bính, phẩm trật, công lý, tội lỗi, địch thù, v.v... Đối với đề tài của chúng ta đang nghiên cứu ở đây, thì điều chúng ta vừa nói trên muốn thay thế cho những khái niệm như : điều động thay thế cho đồng hành ; phối hợp thay cho quyền bính ; bình đẳng thay cho phẩm trật. 

Ngoài ra, người ta còn nhận thấy rằng «cách nhận thức và sống quyền bính và vâng phục đã thay đổi hẳn, dầu là trong Giáo Hội hay ngoài xã hội. Ngoài những lý do khác ra, còn có lý do sau đây: đó là vì người ta ý thức về giá trị của mỗi người, với ơn gọi và những năng khiếu tri thức, cảm xúc và tinh thần của mình, với tự do và khả năng liên lạc của mình; đó là vì người ta ý thức về vị trí trung tâm của nền tu đức hiệp thông, qua việc làm nổi bật những khí cụ giúp chúng ta sống nền tu đức này, giúp chúng ta quan niệm về sứ mệnh một cách khác biệt và ít mang màu sắc cá nhân chủ nghĩa hơn, trong việc chia sẻ với mọi thành phần trong Dân Chúa, với những hình thức cộng tác cụ thể mà ta có thể từ đó suy ra». Nền «văn hóa» trong những xã hội tây phương, đặt trọng tâm nhiều trên cá nhân và tính tự trị của con người. lại càng củng cố thêm trạng thái sự vật mà chúng ta vừa nói đến ở trên. 

    Ta hiểu được tính thích đáng của một bài suy tư, với những chi phí mới về việc thực thi quyền bính trong một cộng đoàn trưởng thành. Bài tham luận của chúng ta, với tựa đề «thực thi quyền bính trong cộng đoàn trưởng thành», sẽ xoay quanh 3 điểm sau đây : 

  1. Khái niệm về quyền bính trong Giáo Hội.
  2. Nền tảng và sự cần thiết của quyền bính.
  3. Hình ảnh một cộng đoàn trưởng thành và kết luận.   
  1. Khái niệm về quyền bính trong Giáo Hội 

Giải nghĩa những khái niệm về quyền bính và vâng phục 

       Quyền bính tương ứng với khả năng có thể ra lệnh và được vâng phục. Quyền bính bao hàm những khái niệm về tính hợp pháp của quyền hạn,  điều hành và vâng phục. Ta không được lẫn lộn quyền bính với tính chuyên quyền. Điều này có nghĩa là việc thực thi quyền bính tất nhiên giả thiết sự vâng phục. Chính vì thế, những từ ngữ vâng phục và quyền bính tương liên với nhau. Giữa 2 từ ngữ quyền bính và vâng phục, còn có lệnh truyền (ra lệnh). Từ đó ta có sơ đồ sau đây: quyền bính -lệnh truyền - vâng phục. 

Từ ngữ quyền bính gợi lên quyền hạn hay sự thống trị. Quyền bính được định nghĩa là «khả năng tạo nên một ảnh hưởng trên những người khác trong sự tôn trọng những chuẩn mực đã được thiết lập và chia sẻ với họ ». Trong khi đó thì theo Max Weber, quyền bính của một cá nhân trên một con người khác dựa trên tính hợp pháp của quyền bính. Tác giả làm nổi bật những nguồn hợp pháp khác nhau, và những nguồn này tương ứng với đặc tính của một quyền bính được những người bề dưới chấp thuận và nhìn nhận. Và cũng chính tác giả xem quyền là  «bất cứ cơ may nào làm cho ý muốn riêng của chúng ta được chiến thắng ngay trong một tương quan xã hội, thậm chí  phải chống lại những kháng cự; mà chẳng cần phải xem cơ may này dựa trên điều gì». Và theo J.M Denquin, để có quyền, thì ta phải biết ra lệnh, biết làm cho người khác kính trọng và vâng phục mình. 

Giáo Hội học về sự hiệp thông của Công Đồng chung Vaticanô II đã kéo theo một cái nhìn mới về quyền bính, về cộng đoàn, về chủ thể và về vâng phục. Như thế, ngày hôm nay, người ta nhấn mạnh đến những từ ngữ như: một mặt là bề trên, người điều hoà, người phụ trách, điều phối viên..., và mặt khác là nhân cách, lương tâm, tự trị, đúng theo công ích, trách nhiệm,...  

Và trong việc  điều hành Giáo Hội, người ta thích dùng những từ như : bổ trợ, tính tập đoàn, đồng trách nhiệm, đa dạng, cộng đoàn. Nếu ta hiểu sai, thì ta có thể lẫn lộn những từ ngữ này với sự độc lập, dân chủ (do người dân cai trị ) và nhất là chủ nghĩa vô chính phủ và sự phóng đãng. 

Như thế, từ những điều đã được nói đến trên đây, chúng ta có thể nói rằng quyền bính tương ứng với một giá trị được nhìn nhận, và được phân cho hay được trao ban; do đó, quyền bính khác khác với chế độ chuyên quyền. Quyền bính được liên kết với tính hợp pháp, và  người thực thi quyền bính được giả thiết là tôn trọng những chuẩn mực đã được thiết lập, và được mọi người chấp nhận. Trong khi đó thì chủ nghĩa chuyên quyền lại quy về quyền lực, về thống trị, thậm chí quy về quyền bá chủ ; quyền bính có thể được thực thi mà không cần có sự đồng ý của các đối tượng. Trong bối cảnh tôn giáo, ta cần nhấn mạnh  quyền bính là quyền nhắm đến lợi ích cho người khác, với mục đích thánh hóa họ. 

Vâng phục là phục tùng một ai đó bằng cách thuận theo những gì người đó ra lệnh hay cấm đoán; đó là chịu theo ý muốn của người khác, như một đứa trẻ vâng lời cha mẹ, thần dân vâng lời quân vương, cá nhân tuân thủ luật pháp. Như thế, dường như ta thấy, trong bất cứ loại hình thức tổ chức xã hội nào, cũng có những mối quan hệ quyền bính, và việc thiết lập quyền bính này được nhiều bên khác nhau ưng thuận hoặc ngầm ưng thuận. Và sự vâng phục hệ tại việc chấp thuận những giá trị do quyền bính chỉ rõ; đó là thái độ của một con người chững chạc (trưởng thành), bởi vì đây không phải từ bỏ con người mình và ý muốn của mình, nhưng là thăng tiến bản thân nhờ đeo đuổi những giá trị này.  

Điều này bao hàm một quyết tâm sâu xa của ý chí, mà ta chỉ có thể quan sát thấy được nơi những con người tự do, có khả năng hiểu, chọn và muốn, những con người trưởng thành để chấp nhận cách tự phát, và với tinh thần trách nhiệm những chuẩn mực của đời sống cộng đoàn (trong xã hội), trong việc chu toàn  cách quảng đại bổn phận của mình, cũng như tôn trọng quyền lợi của người khác. 

Sự vâng phục, trong chiều kích tự nhiên và thuần tuý nhân loại, là hành vi của một con người thông minh và tự do biết nói lên tiếng xin vâng của mình trước một quy định được mọi người nhìn nhận là có thể chấp nhận được (có giá trị) và trên thực tế, được xã hội chấp nhận. Sự vâng phục là khả năng của một người trưởng thành đảm nhận cách ý thức nhiệm vụ và vai trò của mình giữa lòng một cộng đoàn. 

Còn về việc điều hành, đó là hành động của một người điều khiển, tức là người ra lệnh. Trong khung cảnh quyền bính, điều hành là cần thiết, hợp pháp bao lâu con người còn  nhìn nhận tính chất đúng luật của mệnh lệnh mình đã nhận (kế hoạch hoá, đối thoại, chuẩn bị, thực hiện, v.v ) ; họ đồng ý và vâng phục. 

Sự tùng phục theo Tân Ước, «là thái độ tự ý chấp nhận những lời khuyên hay những khích lệ của người khác, thái độ hợp tác với người khác. Thật vậy, vâng phục không có nghĩa là để cho người khác kiểm soát hay điều khiển, mà là thái độ cốt ở việc chiều theo người khác trong mức độ họ phản chiếu tư tưởng của Chúa». Theo nghĩa này thì  vâng phục  không chỉ dừng lại ở việc phục tùng, mà còn là đón nhận người ra lệnh và người mà họ có tương quan. Khi ta thấy có mối quan hệ liên vị này, thì vâng phục trở nên thái độ tình yêu, đó là thái độ đặc trưng của Kitô hữu. 

  1. Nền tảng và sự cần thiết của quyền bính. 

Trong Hội Thánh Công Giáo, Kinh Thánh có toàn quyền luân lý, quyền mà Thiên Chúa hành xử trên mọi tạo vật của Ngài. Như thế,  thực tại này mạc khải cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa, Chúa chúng ta, có quyền bính không hề lay chuyển. 

Nền tảng của quyền bính 

« Mọi quyền bính đều đến từ Thiên Chúa » (Rm 13,1), để phục vụ trong tinh thần chân lý. Mặt khác, trong trình thuật về những người con của ông Zébédée, Chúa Giêsu đả kích tâm tính thế tục được làm rõ nét qua quyền lực và óc thống trị. Chúa đưa ra cho chúng ta một tâm trạng mới như : « Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ, và ai muốn làm đầu thì phải làm người tôi tớ của mọi người.” (Mt.20, 26). Trên thế giới này, những nhà lãnh đạo hành quyền dựa trên một cơ cấu xã hội-chính trị, trên một thứ bậc bảo đảm cho họ là mọi người sẽ tuân lệnh, và như thế, sẽ phục quyền họ. Trong Nước Chúa, quyền bính đến từ sự khiêm nhường trẻ thơ và từ sự phục vụ tận tâm. Nơi những người ngoại giáo, quyền bính đặt nền tảng trên địa vị và cấp bậc ; còn trong Nước Chúa, ai có tâm tính giống như Thiên Chúa, thì người đó mới được công nhận là có quyền bính. Chính vì thế, Đức Kitô đã nói về người lãnh đạo trong Nước Chúa như sau: «Họ phải là người phục vụ, họ phải là người bé nhỏ nhất, họ phải là người tôi tớ, là người rốới cái nhìn của Chúa thì «hữu thể đi trước hành động và hành động lại bắt nguồn từ hữu thể. Nói cách khác, chức vụ đến từ tâm tính.  Những ai phục vụ sẽ thực thi quyền bính, bởi vì họ là những người tôi tớ». 

Trong thế giới dân ngoại, người ta đánh giá sự cao cả của một con người dựa trên quyền lực bên ngoài và tầm quan trọng của địa vị trên người khác. Còn trong Nước Thiên Chúa , thì sự cao cả được đo lường bằng đức khiêm nhường nội tâm, và sự phục vụ được xem như thái độ bên ngoài ; những người lãnh đạo không muốn cho người ta tôn kính mình cách đặc biệt; họ xem mình là « những người bé nhỏ nhất ». Chính vì thế, Chúa Giêsu cho biết Ngài không tán thành quan niệm về quyền bính thế gian. Ngài nói : «Giữa các con thì không được như thế» (Mt.20, 26 ; Mc.10 :43). Đối với Chúa Giêsu thì quyền bính là phục vụ, và đó là  lý do tồn tại của quyền bính trong các sách Tin Mừng. Đó là khuôn vàng thước ngọc hướng dẫn ta thực thi quyền bính cách đúng đắn trong Giáo Hội phục vụ. Theo nghĩa này, Lời Chúa chiếm vị trí đầu tiên ; Đức Giêsu- Kitô là nền tảng duy nhất của Lời Chúa, và Ngài là Đấng đã đến để phục vụ và hiến mạng sống mình cho nhiều người (Mt 28, 18 : Ga 3,30-36). 

Sự cần thiết của quyền bính 

Quyền bính cần thiết cho bất cứ một tổ chức nào tập họp những con người lại với nhau.Chúng ta cần lập quyền bính vì hai đặc tính sau đây: tự nhiên và siêu nhiên. 

Trên bình diện tự nhiên: không có một nhóm người nào tự mình có khả năng hài hòa được đời sống liên nhân vị của mình, và đạt được mục tiêu mình đã đặt ra mà lại không có không có một tiêu chuẩn nào (thuộc bình diện nội tâm), và nhất là không có được người hữu trách mà tất cả mọi người có thể qui hướng. Một nhóm người trong xã hội, nếu không có được người phụ trách năng động và nhiệt tâm trong vai trò được mọi người nhìn nhận, thì chắc chắn nhóm người ấy sẽ phải sống trong cảnh hỗn loạn, làm phương hại đến những mục tiêu đã đề ra và những lý tưởng họ muốn nhắm tới. 

Françoise Rossetti Herbelin đã có lý khi cho rằng những nhiệm vụ trước tiên của quyền bính là: Bảo đảm cho luật lệ, tạo dễ dàng cho nhiệm vụ của nhóm và tạo dễ dàng cho những quan hệ nội tại. Tạo dễ dàng cho nhiệm vụ của nhóm tức là khích lệ nhóm, phối hợp các nỗ lực, quyết định những phương tiện thích hợp để đạt tới những mục tiêu của nhóm. Trong khi đó, phải bảo đảm làm sao để tạo dễ dàng cho những mối quan hệ nội tại cốt ở việc phát triển và  liên kết chặt chẽ, củng cố tinh thần, duy trì sự hợp nhất của nhóm. 

Cũng thế, trên bình diện siêu nhiên, ta phải nhớ rằng Hội dòng và những cộng đoàn tạo nên Hội dòng là những cộng đoàn của Giáo Hội. Những cộng đoàn này đã được thẩm quyền của Hội Thánh muốn và công khai thiết lập. «Ta không thấy nơi nào trong Giáo Hội có một cộng đoàn mà không hề có người phụ trách.  Nếu có, thì cộng đoàn như thế chỉ là một cộng đoàn ngông cuồng, vô hiệu lực và nhất là cộng đoàn đó không đáp ứng được thực tại bản chất Hội Thánh, xét như là thành phần Dân Chúa. 

Trong viễn tượng này, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng : « Trong đời sống thánh hiến, vai trò của các vị Bề Trên và Bề Trên Tổng quyền luôn có một tầm quan trọng rộng lớn đối với đời sống thiêng liêng, cũng như đối với sứ mệnh truyền giáo... Những ai thực thi quyền bính không thể không chu toàn những bổn phận của mình là những người phụ trách trước tiên của cộng đoàn, người hướng dẫn anh chị em mình trên con đường thiêng liêng và tông đồ của những người anh chị em đó». 

Trong việc điều hành mang tính phục vụ này, «thì trong những môi trường ghi đậm nét cá nhân chủ nghĩa, viêc làm cho người khác nhận ra và đón nhận vai trò của quyền bính để phục lợi ích của mọi người, quả thực chẳng dễ dàng chút nào. Tuy nhiên, ta phải tái khẳng định tầm quan trọng của trách vụ này, một trách vụ được mọi người xem là cần thiết để củng cố mối hiệp thông huynh đệ, và để không  làm cho sự vâng phục phải trở nên vô ích. 

Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói rất chính xác trong bài diễn văn của ngài đọc trước các vị Bề Trên rằng «Quyền bính phục vụ đòi phải có một sự hiện diện thường xuyên có khả năng thúc đẩy và đề nghị, nhắc nhớ lý do tồn tại của đời sống thánh hiến, giúp những ai đã được giao phó cho anh chị em ngày càng trung thành đáp lại tiếng gọi của Chúa Thánh Thần. Quyền bính và vâng phục là cách thực thi tình bác ái, luật mới là tình yêu (x. Ga 5, 9-15 ; Ga 6, 57) để giúp ta thi hành ý muốn của Thiên Chúa và sống thánh thiện. 

Quyền bính trong cộng đoàn trưởng thành 

Cộng đoàn trưởng thành  là một khung cảnh sống, nơi các thành viên đã đạt được đầy đủ sự trưởng thành trong  nhận thức, và tăng trưởng trên bình diện thể lý, tâm lý, trí tuệ, luân lý, tu đức và có được một kinh nghiệm nào đó về con người và các biến cố, một cái nhìn sáng suốt về sự vật, một mức độ đúng đắn và sáng suốt trong việc đánh giá những giá trị, con người và biến cố. Họ có khả năng  hành động một cách có trách nhiệm, tự do, trung thực, liên kết và hài hòa với toàn bộ giá trị, và trong trường hợp đặc biệt, với những đòi hỏi của đời sống thánh hiến. 

Bức chân dung của thành viên trong một cộng đoàn trưởng thành. 

Trước khi tiến hành mô tả những thành viên  của một cộng đoàn trưởng thành, trước tiên, ta cần phác thảo bức chân dung của một con người trưởng thành, mô tả bản tính của họ. 

Bản tính của một con người trưởng thành trên bình diện nhân loại 

Người trưởng thành là người đã hoàn toàn phát triển,  người đã đạt đến mức độ trưởng thành cho phép họ làm chủ được những khả năng thể lý và trí tuệ của mình, và làm họ có khả năng phán đoán một cách đúng đắn về phương diện tâm lý và  thiêng liêng.  

Như thế, người trưởng thành có khả năng quyết định cách tự do và giữ những điều minh đã cam kết; đó là người hướng đến những thực tại và những vấn đề hệ trọng, cởi mở đón nhận những vấn nạn của người khác và của thế giới; là người đã được một kinh nghiệm nào đó về con người và sự vật; như thế, họ bớt nghiêm khắc hơn, tế nhị hơn, thông cảm hơn. Một con người biết rằng bất cứ ai cũng có những giới hạn cũng như khuyết điểm, và không làm cho mình phải vấp phạm. 

Theo Đức Hồng Y Malula (đã qua đời), Đấng sáng lập Hội Dòng các Nữ Tu Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu tại Kinshasa, thì một người hoàn toàn trưởng thành là « một con người có trách nhiệm, có những xác tin cá nhân, và nỗ lực đem ra áp dụng trong đời sống và chia sẻ cho người khác, một con người hành động, có sáng kiến và kinh nghiệm độc đáo». Người  trưởng thành là người đã trút bỏ, hoặc đang từ từ trút bỏ những hành động ấu trĩ. 

Bản tính của một người chưa trưởng thành trên bình diện nhân văn 

Một người chưa trưởng thành bày tỏ và thoả thích trong những khuyết điểm, hay những ý thích thất thường mang tính trẻ con của mình; họ quan tâm đến những chuyện không đâu và những thoả mãn  nhỏ nhặt của mình;  họ dừng lại ở những chuyện phù phiếm, ở những cái thứ yếu hơn điều chính yếu; họ chỉ muốn nói đến quyền lợi hơn là bổn phận  của mình; chỉ môt chút là phàn nàn, yêu sách và chỉ trích tiêu cực. Đó là một con người mê thích mình, một con người tìm cách xem mình là trọng tâm của cộng đoàn, mà không hề quan tâm đến công ích hay ích lợi của người khác. 

Với những điều vừa được khẳng định trên đây, ta có thể cho rằng một tu sĩ trưởng thành là người đã có «chọn lựa một lần thay cho tất cả, và là người mang trong lòng mình tình yêu đam mê đối với Thiên Chúa, đam mê bác ái từ bỏ tất cả những gì tầm thường và bất cứ đời sống dễ dãi nào. Trong cuộc sống, họ không ngừng tìm kiếm tình yêu trọn hảo». 

Trong đời tu, trưởng thành có nghĩa  là biết cách sống theo sự lựa chọn lựa căn bản của mình, bằng cách đón nhận một cách triệt để mọi đòi hỏi của bậc sống của mình với niềm vui và trách nhiệm, dầu cho có những khó khăn rải rác trên bước đường mình đi. Người tu sĩ trưởng thành đảm nhận cách thanh thản, những quyền lợi và bổn phận gắn liền với bậc sống của mình, và hoàn toàn sống trong giới hạn của những quyền lợi và bổn phận, đến độ họ làm cho mọi người có thể thấy được họ hoàn toàn tự ý chấp nhận những đòi hỏi của cuộc sống,  mà không hề bị bó buộc  cũng như  miễn cưỡng. Tóm lại, đó là một người đã chọn Đức Giêsu, và đã chọn Đức Giêsu chịu đóng đinh để tận hiến đời mình cho công trình cứu độ, và đã biết Ngài một cách đầy đủ qua kinh nghiệm của cầu nguyện, vâng phục,  tận tuỵ phục vụ anh chị em, hoạt động tông đồ, khó nghèo thật sự và kỷ luật trong cuộc sống. 

Diện mạo người lãnh đạo trong cộng đoàn trưởng thành 

Người lãnh đạo trong một cộng đoàn trưởng thành trước tiên là thành viên của cộng đoàn này, do đó, họ phải là hiện thân của những giá trị và tầm nhìn (Đặc sủng và Linh đạo) của Hội Dòng mình. Họ xử sự dựa theo vâng phục, sứ mệnh và phục vụ. 

Người lãnh đạo là vâng phục : trước hết, bề trên là người vâng phục đầu tiên, bởi vì họ thực thi quyền bính của mình trong việc ngoan ngoãn vâng nghe Lời Chúa, và như thế, là vâng phục Thiên Chúa, bởi vì họ thi hành chức vụ khi họ lắng nghe lời Chúa, lắng nghe Huấn quyền của Giáo Hội, Hiến pháp của Dòng để phục vụ công ích và ích lợi của mỗi phần tử, và  phục vụ sứ mệnh của Hội dòng. Cha Bernard Ducruet cũng đã nhấn mạnh như thế, ngài nói rằng trong cộng đoàn Kitô giáo, quyền bính là để phục vụ Lời Chúa. Từ điểu chúng ta vừa nói đến ở trên, quyền bính khác với bất cứ loại hình thức cộng đoàn nào. Quyền bính dựa trên Lời Chúa, một lời rõ ràng và hiển nhiên, được nói với chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô. Trong một cộng đoàn thiêng liêng, chính Lời Chúa chiếm vị trí đầu tiên, và Đức Giêsu Kitô là nền tảng duy nhất của cộng đoàn này.

 Người lãnh đạo là sứ mệnh mà ta có thể liên kết với 3 nhiệm vụ của thừa tác vụ mục tử của các Giám Mục trong Giáo Hội. (MR 13). Bề trên điều hành qua việc giảng dạy để thánh hóa. Bề trên phải giúp những người mình coi sóc nên thánh. 

Thánh Biển Đức nói, Viện Phụ « phải luôn nhớ đến danh xưng mà mình đang mang» và danh xưng đó xác định sứ mệnh dẫn đưa những người con cái Thiên Chúa đã giao phó cho mình về với Chúa Cha. Trong cộng đoàn, Bề Trên là Mẹ, nhưng không theo kiểu cha mẹ giáo dục con cái mình, mặc dầu đôi khi có sự tương đồng nào đó. Bề trên là cha, là mẹ giống như Đức Kitô ở giữa các môn đệ của mình. Sứ mệnh của Đức Kitô là mạc khải Chúa Cha cho họ, đưa họ về với Chúa Cha bằng cả con người, gương sáng và giáo huấn của Ngài. Bề trên không phải là người thay thế người cha người mẹ tự nhiên mà có thể chúng ta đang thiếu; mục đích của bề trên không phải là bít kín những lỗ hổng tình cảm con trẻ của chúng ta.  Tình mẫu tử phụ tử của Bề trên sẽ dạy cho họ biết khám phá ra nguồn gốc và cuộc sinh nở của mình trong Thiên Chúa. Cũng cùng một ý nghĩa này, câu châm ngôn Rwandais đã nói :  «Thật ra chỉ một mình Thiên Chúa mới hạ sinh, con người chỉ làm công việc giáo dục». 

Chỉ Bề Trên nào hoàn toàn trung thành với Lời Chúa mới có thể mường tượng được cuộc sinh nở của mình trong Thiên Chúa, khi họ sẵn sàng tỏ ra vâng theo giáo huấn của Tin Mừng, của Giáo Hội và Hiến Pháp của Dòng mình. 

Chính vì thế, Thánh Biển Đức nói thêm: «ngài sẽ không dạy gì cả, sẽ  không thiết lập hay ra lệnh một điều gì cả ngoài giáo huấn của Chúa Giêsu. Giáo huấn, lệnh truyền và gương mẫu của ngài phải thức tỉnh nới các đan sĩ tinh thần con thảo, được xem như hạt mầm của Lời Chúa». 

Người lãnh đạo là phục vụ, bởi vì bề trên phải là người tôi tớ phục vụ anh chị em mình, là linh hoạt viên với ưu tư duy nhất muốn chu toàn sứ mệnh của mình với tinh thần trách nhiệm, để có được cộng đoàn biết vâng phục, hợp nhất và huynh đệ, một cộng đoàn đặc sủng, để phục vụ mỗi thành viên trong cộng đoàn. Trong khi phục vụ cộng đoàn, bề trên đóng vai trò là người chỉ đạo và hướng dẫn. Chính vì thế, « Quyền bính thiêng liêng không phát sinh từ con người là bạn hay là thù, nhưng phát sinh từ Đức Kitô và Lời của Ngài là Đấng đã nói «Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ» (Mt 27-28). Bề trên từ bỏ  những ước muốn có ít nhiều đam mê muốn quyết định, ép buộc, thống trị hay lôi cuốn người khác. Bề trên không tìm cách tác động trên cảm xúc của con người, cũng như không tìm cách tán dương lòng mộ đạo của họ. Lòng yêu thương của bề trên trải rộng tới mọi anh chị em của mình, và nhất là tới những người yếu đuối nhất, mà nơi họ, bề trên nhìn thấy được hình ảnh Đức Giêsu Kitô đã ghi hay muốn ghi dấu ấn của Ngài. 

Người lãnh đạo trong một cộng đoàn như thế, trước tiên không phải là giám thị, mà là điều phối viên và là người đồng hành. Để làm được như thế, bề trên phải dựa vào Chúa Giêsu và Lời của Ngài. Như thế, «Người lãnh đạo tinh thần đích thật không chứng tỏ con người mình bằng sự thành công hay kết quả đạt được, nhưng họ dựa vào sự khiêm tốn,  lắng nghe mỗi người, trung thành trong tình yêu đối với Chúa, đối với Lời Chúa và đối với Giáo Hội của Ngài. 

Thừa tác vụ của bề trên là thừa tác vụ hợp nhất - bề trên là dấu chỉ và là người có trách nhiệm lo cho sự hợp nhất trong cộng đoàn. Lý tưởng này có thể thực hiện được không ? Người ta có thể tự hỏi như thế. Nhưng chúng ta vẫn luôn ý thức rõ là quyền bính trong cộng đoàn, cũng như trong lòng Giáo Hội vẫn luôn là hồng ân Thiên Chúa ban, và hồng ân này vẫn là lý tưởng mà mỗi ngày ta phải xem mình đã đạt tới mức nào. 

Người lãnh đạo và tình hình của cộng đoàn 

Bề trên thực thi quyền bính của mình dựa vào kế hoạch của Thiên Chúa đã được Đức Giêsu dạy : «Tôi đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ» (Mt. 20, 27-28). Trong thực tế, bề trên là con người bất toàn, họ phải nhìn nhận điều này, và phải tự vượt thắng để đáp ứng cho những đòi hỏi khi thi hành trách nhiệm của mình. Họ phải làm phát sinh trong lòng mình những đức tính nhân bản giúp họ được mọi người chấp nhận, ngay cả trong ngữ cảnh khác với dòng tu. Ngoài tất cả những đức tính nhân bản này, bề trên còn phải là người dễ tiếp cận và
được mọi người tin tưởng. Bề trên giúp các thành viên của mình biết cởi mở cách tự phát. Và khi đã trấn an họ, bề trên khuyến khích họ cởi mở lương tâm. 

Sự tin tưởng giúp cho bề trên thực thi được quyền bính-phục vụ của mình cách tự do, dễ dàng và vui  vẻ. Bề trên xứng đáng nhận được niềm tin tưởng này, sự tin tưởng mà ta không thể mua được bằng tiền. Sự tin tưởng là điểm căn bản của hành động đáp ứng những qui luật sau đây: thực thi quyền bính nhận lãnh từ Thiên Chúa với tinh thần phục vụ; luôn thi hành thánh ý Thiên khi thực thi quyền bính; điều hành các thành viên như con cái của Thiên Chúa; cổ vũ việc vâng lời một cách tự nguyện; tôn trọng mọi người; lắng nghe mỗi thành viên và toàn thể cộng đoàn; tạo thuận lợi cho sự cộng tác và khuyến khích những sáng kiến vì ích lợi của Hội Dòng và Hội Thánh (x. Can 618). 

Tình hinh của cộng đoàn đối với quyền bính 

Trong cộng đoàn, bề trên không áp đặt bằng những lời nói độc đoán. Nhưng bê trên mặc lấy tâm tình như một thành viên, tâm đầu ý hợp với những thành viên khác, ý thức về sứ mệnh của mình là làm cho các thành viên khác hoạt động cách linh hoạt. Bởi vì nhiệm vụ chính của bề trên là giúp mọi người đạt được những  mục tiêu cá nhân và cộng đoàn.  Để làm nổi bật sự đồng vận này, khôn ngoan châu Phi đã diễn tả qua câu châm ngôn sau đây: «Mukalenga wa bantu, bantu ba mukalenga», có nghĩa là : «người lãnh đạo vì dân và dân vì người lãnh đạo». Như thế, có một sự liên hệ hỗ tương. Bề trên không áp đặt cho tập thể cách mình suy nghĩ và hiện hữu. Bề trên là linh hoạt  viên của cộng đoàn. Điều này có nghĩa là thức tỉnh đời sống của tập thể, là kêu gọi cộng đoàn sống một cuộc sống bắt nguồn từ cách sống của mình. Chinh vì thế, trong cộng đoàn tu trì,  quyền bính thiết yếu là «mục vụ». 

Đứng về góc độ hoạt động, bề trên điều hành cộng đoàn bắt đầu từ chính cộng đoàn, bề trên phải hết sức tôn trọng các thành viên, bởi vì những mục tiêu của cộng đoàn không hề xa lạ với các mục tiêu của các thành viên và ngược lại, những mục tiêu của các thành viên cũng không hề xa lạ với những mục tiêu của cộng đoàn, bởi vì cộng đoàn nằm trong lòng các thành viên. 

Bề trên được kêu gọi để có « thái độ phục vụ quan tâm và niềm nỡ». Thái độ này cho phép bề trên biến đổi cộng đoàn không có sức sống và tiêu cực  thành cộng đoàn năng động và tích cực, củng cố những khả năng của các thành viên trong cộng đoàn. Mọi người mong đợi nơi bề trên thái độ huynh đệ và con người đồng hành hơn là một chuyên gia hiểu biết tất cả và biết làm tất cả. 

Bề trên là người đồng hành với cộng đoàn 

Trong việc đồng hành, bề trên không những chú ý tới việc làm của anh em, mà còn chú ý tới tất cả những gì liên quan đến con người của  họ về mặt nhân bản, cảm xúc, liên hệ, đời sống tinh thần và tôn giáo... Không chỉ có theo dõi, Bề trên còn tạo thuận lợi cho các thành viên cởi mở, để họ quan tâm và cảm thấy thich thú sống những đòi hỏi của Tin Mừng trong niềm vui của Chúa. Là Bề trên thì quan trọng hơn hành động với tư cách là bề trên. Sự kiện làm người đồng hành bao hàm khả năng biết  sống với người khác, mà không hề ngăn cản họ sống thật với con người của mình, bằng thái độ đồng hành hơn là ra lệnh, bằng cách làm cho sự vật xuất hiện hơn là tự mình tổ chức sắp xếp những sự vật đó. 

Bề trên mang lại sức sống cho cộng đoàn 

Linh hoạt là phương pháp điều hành cộng đoàn dựa trên sự cộng tác và tham gia. Sự linh hoạt của bề trên được thể hiện qua thái độ sẵn sàng, lòng khoan dung và tận tụy của mình, quảng đại  chấp nhận các thành viên và thông cảm họ, trưởng thành theo tinh thần Phúc Âm, khả năng tiếp nhận và sống những hoàn cảnh Chúa gửi đến, chấp nhận những giới hạn của mình, nhạy bén trong việc nhận ra thực tại của cộng đoàn, và những tình huống mà cộng đoàn đang phải trải qua, luôn sống một đời sống cầu nguyện đích thực, khả năng nói và thinh lặng, khả năng phân định được những vấn đề nghi nghĩa, khả năng đối diện với nỗi sợ hãi của mình, khả năng đọc và khám phá ra những cơ chế để tự vệ, để trốn chạy và để kháng cự. 

Những phương tiện hoạt động của Bề trên Dòng 

Để phát triển những giá trị giúp chúng ta lớn lên trong cộng đoàn, và giúp cộng đoàn lớn lên, chúng tôi đưa vào đây một số phương tiện hành động mà Bề trên có thể sử dụng để giúp anh em mình vâng phục cách tự nguyện : 

Thông tin: là phương tiện hữu hiệu để giúp cho các thành viên dễ dàng ý thức, đồng trách nhiệm và dấn thân; ủy thác trách nhiệm (có khả năng ủy quyền), là con đường hữu hiệu để nhận ra khoảng không gian tự do hợp lý  để tự tổ chức và tổ chức. Ở đây, ta muốn nói đến những chị em được trực tiếp giao cho thi hành những bổn phận và công việc ; luật lệ xác định rõ ràng cho đời sống (thích nghi), cộng đoàn biết lựa chọn thời biểu để đáp ứng những chỉ dẫn tổng quát của luật và  những trường hợp cụ thể, đặc thù của luật. Bổn phận của bề trên là làm cho ý thức này được sinh động, để khích lệ anh em vâng lời cách tự nguyện. Như thế, người tu sĩ trưởng thành sẽ có được những điều sau đây: hiểu biết đầy đủ về đặc sủng và những đòi hỏi của đời tu, hiểu biết đầy đủ về linh đạo và Đặc sủng riêng của Hội Dòng mình; người ấy sẽ chứng tỏ mình gắn bó tự nguyện nhờ đức tin với tất cả những gì đã nói ở trên: khả năng lắng nghe và chấp nhận quyền bính, đối thoại cởi mở, kiên trì và vững vàng trong việc phân định, vô vị lợi và quảng đại trong hành động, tùng phục luật lệ và quyền bính. 

  1. Hình ảnh cộng đoàn trưởng thành 

Cộng đoàn tu sĩ  là sự hiệp thông của những người sống đời thánh hiến, họ tuyên khấn để tìm kiếm và  cùng nhau chu toàn  thánh ý Chúa ;  đây là cộng đoàn các nam nữ tu sĩ với những vai trò khác nhau, nhưng chia sẻ cùng một mục đích, cùng một lý tưởng và cùng một niềm đam mê. Tất cả những điều đó khắc ghi trong lòng họ một số đặc tính làm họ trở thành những chứng nhân của mối hiệp thông Ba Ngôi Thiên Chúa. Các thành viên của một cộng đoàn trưởng thành trau dồi nhũng giá trị Phúc Âm, và  từng bước chiến đấu chống lại những gì đi ngược lại với các giá trị, và họ có đầy đủ khả năng để vâng phục những chuẩn mực tổng quát và riêng biệt. 

Như thế, những nét đặc trưng của cộng đoàn trưởng thành : đồng trách nhiệm liên kết với nhau, đánh giá hỗ tương và thừa nhận nhau, chấp nhận và động viên người khác phát triển tiềm năng của họ; bổ sung cho nhau. Ở đây ta cần phải nhấn mạnh rằng đời sống chung, sự hợp nhất sẽ được hoàn thiện nếu mọi thành viên cùng quản trị cuộc sống chung. Mỗi người đảm nhận phần trách nhiệm của mình theo khả năng, để nâng đỡ và bổ túc cho hành động và những sáng kiến của cộng đoàn. Tính bổ sung cho phép ta cùng nhau chia sẻ trách nhiệm một cách tốt đẹp và gắn bó với thánh ý Chúa. Câu châm ngôn của châu Phi đã không nói rằng những con kiến có thể tải nổi một con voi khi chúng liên kết với nhau đó sao ? (Mossi) 

Hình ảnh một cộng đoàn không trưởng thành 

Ở đây ta muốn nói đến cộng đoàn mà những thành viên không hề quy chiếu về Đức Kitô là trung tâm đời sống của họ. Các thành viên là người yêu sách hơn là những người khởi xướng. Đó là một cộng đoàn không có hỗ trợ, không có những sáng kiến xây dựng; một cộng đoàn mà ta nhận thấy là thiếu chấp nhận quyền bính và tuân phục những tiêu chuẩn tổng quát và riêng biệt. 

Trong một cộng đoàn không trưởng thành, việc thực thi quyền bính gặp phải  những khó khăn mà ta có thể xem là những khuyết điểm của người lãnh đạo, và đây là một vài dấu chỉ: chuyên quyền  dưới mọi hình thức, bất bình đẳng trong cách đối xử (thiên vị), thiếu tôn trọng đối với những người mình điều hành, và đối với phẩm giá nhân bản và Kitô giáo của họ, muốn giải quyết tất cả  (quyền bính hiện diện khắp nơi), óc giám thị và nghi ngờ, ích kỷ và ù lì không dám đương đầu với những vấn đề thực tế, thiếu bác ái, cứng lòng, v.v... Và hệ quả tất nhiên là sự vâng phục cũng gặp phải  những khuyết điểm mà ta có thể nêu ra những biểu hiện sau đây: nổi loạn hay chống đối, đả kích tất cả, óc gièm pha và cằn nhằn, giả hình và thiếu thành thật, lề thói và nhàm chán tất cả, thái độ ấu trĩ, trầm uất v. v... 

Những phương thế để đạt được sự trưởng thành này 

Cộng đoàn trưởng thành không phải là loại quần áo may sẵn, cũng không phải là một thế hệ tự phát. Cộng đoàn là thành quả của những hành vi và của nền văn hóa bắt nguồn từ  sự đào tạo  đầu tiên, thường xuyên và có trách nhiệm. 

Và như thế, ngay từ đào tạo đầu tiên, ta đã phải được đào tạo về ý chí và  học tập các nhân đức nhân bản như:  trung thực, ngay thẳng, ý thưc trách nhiệm, óc phê phán, tự do và quân bình về mặt cảm xúc. Việc đào tạo này phải được thực hiện qua một quá trình đào tạo và phải áp dụng một số thực hành. 

 Cổ vũ giáo dục ý chí: giáo dục ý chí, củng cố hay trau dồi ý chí phải được thể hiện qua việc từ bỏ bằng cách nói không hay giới hạn thời gian; lòng quảng đại được thể hiện bằng cách làm cho mình luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người; đúng giờ, nhanh nhẹn, có kỷ luật bản thân, chấp nhận kiêng khem, can đảm để đương đầu với những tình huống thử thách, làm việc cá nhân, những sáng kiến cá nhân. 

Cải thiện phương pháp phân định:  sự cải thiện này chỉ có thể đạt được khi ta thiết lập một bậc thang giá trị: những giá trị của Đức Kitô (nhân đức), những giá trị cá nhân (những hoạch định cá nhân) và Hội ḍng (những bó buộc với tư cách là tu sĩ). Sự thực hành này cần phải được nâng đỡ bằng lời cầu nguyện và nguyện gẫm hàng ngày. Nếu phân dịnh sai lệch, thì đối thoại sẽ trở nên trống rỗng. 

Luyện tập lắng nghe (để củng cố khả năng lắng nghe, ta phải cố gắng hiểu được sự hiện diện, kinh nghiệm, cái bây giờ và ở đây của người khác, sẵn lòng nhìn thế giới với đôi mắt của người khác, lắng nghe họ bằng cả con tim, hiểu và lắng nghe, biết im lặng và để người cho khác nói...). 

Tôn trọng nhu cầu của người khác trong toàn bộ cá tính của họ (một hình thức khác về văn hóa vâng phục cốt ở việc biết và hiểu người khác, cốt ở việc có một thái độ quan tâm chân thành và huynh đệ, nâng đỡ người khác tăng trưởng... một phương tiện khác để trau dồi văn hóa vâng phục là phục vụ mọi người một cách vô vị lợi và bộc phát,  hoàn toàn sẵn sàng giúp đỡ, sẵn sàng cách vô vị lợi bằng sự tự nguyện và cống hiến, đóng góp).

 

Kết luận 

Quyền bính, vâng lời, phục tùng. Sự phục tùng hiện hữu trong Thánh Kinh, và đó là điều quý giá. Nhưng vâng phục  phải bắt đầu bằng điều Thiên Chúa  muốn, và bằng Lời Chúa giả định, nghĩa là tất cả chúng ta, dầu là cá nhân hay tập thể (bề trên và các thành viên), đều tùng phục Đức Giêsu Kitô; và chúng ta tùng phục lẫn nhau trong Giáo Hội, nơi chúng ta sống, để được xem là những người thợ tận tụy phục vụ Thân mình Đức Kitô, và chứng tỏ mình là người trung thành. Thánh Phaolô đã nói rất rõ:  «Anh em phục tùng lẫn nhau trong lòng kính sợ Chúa Kitô » (Ep 5, 21). 

Thánh Phêrô diễn tả  cùng một tư tưởng như thế khi ngài nói: «Cũng thế, các bạn, những người trẻ, hãy phục tùng người cao niên, và mọi người, người này đối với người khác, hãy mặc lấy sự khiêm nhu, bởi vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường» (1 P 5, 5). 

Tình yêu thúc đẩy chúng ta chấp nhận trách nhiệm làm «người canh giữ anh chị em mình». Nhưng tình yêu không cho phép chúng ta dùng bạo lực để quá xen vào đời sống riêng tư của họ. Thật vậy, chúng ta được kêu mời bước theo con đường kín đáo của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn mỗi người. Và chúng ta không bao giờ được kêu mời  thay thế Ngài, hay để làm công việc của Ngài! 

Bởi vì sự tùng phục lẫn nhau dựa trên tình yêu, nên nó cũng bắt nguồn trong chính bản tính của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa, tự bản tính là Cộng đoàn. Trong thực tế, Thiên Chúa duy nhất là cộng đoàn Ba Ngôi từ muôn đời muôn kiếp vẫn hằng chia sẻ cuộc sống chung. 

Do đó,  quyền bính xuất phát từ trực giác thần linh. Ba Ngôi Thiên Chúa  diễn tả một cộng đoàn duy nhất bổ sung cho nhau và cùng đồng trách nhiệm.   

                 Roma, ngày 06 tháng 05 năm 2013

Sœur Charlotte SUMBAMANU, STNJ

Nguồn: http://www.simonhoadalat.com

"Làm việc với giới trẻ đòi hỏi rất nhiều kiên nhẫn và khả năng lắng nghe. Cần phải mệt. Không thể làm việc về ơn gọi mà chẳng mệt", đây là những lời nói ứng khẩu của Đức Thánh Cha nói với các vị lo mục vụ ơn gọi ở Châu Âu.
 

Văn Yên, SJ - Vatican

VATICAN. Lúc 12h trưa 6/6, tại hội trường Consistoro của Vatican, ĐTC Phanxicô đã gặp khoảng 80 thành viên hội nghị về chăm sóc mục vụ ơn gọi tại Châu Âu. ĐTC trao cho các tham dự viên bản văn bài huấn dụ và ngài nói ứng khẩu với các tham dự viên.

Trong phần nói ứng khẩu, Đức Thánh Cha đề cập đến 4 điểm. Trước tiên, làm việc cho ơn gọi không phải là chiêu dụ, nhưng chính sự lớn lên của Giáo hội sẽ thu hút. Thứ đến là giúp cho người trẻ có thể đối thoại với Chúa, để họ có thể hỏi Chúa: Ngài muốn gì ở con? Thứ ba là thái độ của người đồng hành. Làm việc với giới trẻ đòi hỏi rất nhiều kiên nhẫn và khả năng lắng nghe. Cần phải mệt. Không thể làm việc về ơn gọi mà chẳng mệt. Và cuối cùng là ngôn ngữ của người trẻ. Thời xưa, việc đồng hành với người trẻ đơn giản hơn. Cần đồng hành để giúp người trẻ đọc được tâm hồn của họ, chứ không phải đưa ra những lời khuyên hay mà chẳng đụng gì đến họ.

Về bản văn bài huấn dụ được trao cho các tham dự viên, ngay phần mở đầu, ĐTC nhắc đến tông huấn Christus Vivit, với trích dẫn lời khuyến khích “hãy lớn lên trong sự thánh thiện và dấn thân với chính ơn gọi của mình” (số 3). Đức Thánh Cha gọi Châu Âu là “lục địa già” nhưng ngài khuyến khích những vị hữu trách trong việc chăm sóc mục vụ ơn gọi hãy tin rằng “tất cả những gì được Đức Kitô đụng chạm đến đều trở nên trẻ trung và tràn đầy sự sống” (x. Ibid., 1).

ĐTC trình bày với những người tham dự 3 ý tưởng: sự thánh thiện, hiệp thông và ơn gọi.

Điểm đầu tiên về sự thánh thiện. Về sự thánh thiện, người ta luôn nghĩ đến người trẻ, vì “tuổi trẻ là thời gian đặc biệt cho những chọn lựa cuộc sống và đáp lại lời mời gọi của Chúa” (Tài liệu làm việc Thượng HĐGM về Người Trẻ, 140). Nhưng cũng không được quên, ơn gọi là một hành trình kéo dài suốt đời. Bởi vì, khi còn trẻ thì ơn gọi liên quan đến việc định hướng đáp lại lời mời của Chúa và khi trưởng thành thì liên quan đến những hoa quả và phân định điều gì phải làm. Cuộc sống là sinh hoa trái trong đức ái và điều này đáp lại lời mời gọi nên thánh mà Chúa dành cho tất cả mọi người, mỗi người bằng con đường riêng (x. Gaudete et exsultate, 10-11). Thường ơn gọi được xem là một cuộc phiêu lưu cá nhân, của “tôi” chứ không phải của “chúng ta”. Thực ra, “không ai được cứu độ một mình, nhưng là nên thánh cùng nhau.” Và “cuộc sống của người này gắn kết với cuộc sống của người khác”. Do đó, cần phải quan tâm đến việc nên thánh chung này.

Điểm thứ hai về sự hiệp thông. Từ sự hiệp thông của Giáo hội sẽ sinh ra những ơn gọi mới. ĐTC nhắc: “Thông thường trong các cộng đoàn của chúng ta, trong các gia đình, trong linh mục đoàn, chúng ta đã suy nghĩ và làm việc với tư duy thế tục, điều này chia cắt và chia rẽ chúng ta. Đây cũng là một trong những lối văn hóa ngày nay và lịch sử chính trị đau buồn của châu Âu cũng cho thấy điều đó. Chỉ khi thực sự nhận ra rằng cộng đoàn với những đặc tính cởi mở, sống động, không loại trừ thì chúng ta mới có viễn tượng tương lai. Giới trẻ đang khát điều này.

Điểm thứ ba về ơn gọi. ĐTC viết: “từ ‘ơn gọi’ vẫn chưa hết hạn. Tôi biết một số cộng đoàn đã chọn không nói từ ‘ơn gọi’ trong các chương trình giới trẻ, vì họ sợ những người trẻ sẽ không tham gia các hoạt động như thế. Nhưng đây là một chiến thuật thất bại. Loại bỏ từ ‘ơn gọi’ khỏi từ vựng đức tin là đang lao vào một mối nguy mà, sớm hay muộn, người ta sẽ không còn hiểu nhau. Vì thế thay vào đó, chúng ta, những người nam nữ, giáo dân, tận hiến, những người khao khát gặp gỡ Thiên Chúa và ước mong biến đổi nhân loại, cần có khả năng loan báo bằng cuộc sống hạnh phúc đến từ ơn gọi của mình."

Sau ba ý tưởng về sự thánh thiện, hiệp thông và ơn gọi, ĐTC đề cập đến ba từ khoá cần quan tâm. Trước hết là “hạnh phúc”, cần cho thấy đây là niềm vui vừa sâu xa vừa lâu bền. Kế đến là “tự do”, làm sao để người trẻ không thấy ơn gọi là đáng sợ, do nhầm lẫn ơn gọi tước đi tự do, ngược lại đây là việc tự do đáp lại tiếng Chúa. Từ khoá thứ ba là “cùng nhau”, chẳng ai có thể hoàn tất chọn lựa cuộc sống riêng mình, vì ơn gọi luôn cho và với người khác.

Để kết thúc bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nhắc đến cách riêng những ơn gọi thánh hiến. Ngài viết: “Nếu chúng ta khởi đi từ việc tin rằng Thánh Thần vẫn tiếp tục khơi dậy ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến, thì chúng ta có thể ‘thả lưới một lần nữa’ nhân danh Chúa, với niềm tin trọn vẹn” (Christus Vivit, 274). Đức Thánh Cha khuyến khích: “tôi nghĩ đến những cộng đoàn sống đời thánh hiến đang lo cho các cơ sở bác ái và truyền giáo, các đan sĩ, các linh mục, phó tế, giám mục, các tu sĩ mỗi ngày trung thành và tận tuỵ phục vụ giới trẻ. Những công việc của họ là một rừng cây phát triển mà không gây ra tiếng ồn nào. Do đó, đừng ngại chấp nhận thách đố loan báo ơn gọi đời sống thánh hiến và sứ vụ linh mục. Giáo hội cần điều đó! Và khi những người trẻ gặp gỡ những người nam nữ tận hiến đáng tin cậy, không phải vì họ hoàn hảo mà vì mang dấu ấn từ cuộc gặp gỡ với Chúa, thì những người trẻ biết cảm nếm một cuộc sống khác và tự vấn về ơn gọi của họ.

06 tháng sáu 2019, 15:25

Soeur yêu quý!

Hình ảnh Soeur trong mắt con thật tuyệt vời, ngay từ những ngày đầu tiên con đặt chân lên chốn đô thị để bắt đầu cái nghiệp đèn sách. Hình dáng Soeur nhỏ nhắn, xinh xắn với chiếc áo dòng đơn sơ, nghèo khó, không kiểu cách, không thời trang. Gương mặt Soeur dù không son phấn, nhưng vẫn toát lên nét gì đó thật duyên dáng, thánh thiện. Nếp sống vô cùng giản dị của Soeur đã chạm đến con và khiến tim con rung nhịp.

Đôi lúc nhìn Soeur, con thầm hỏi: “Giáo hội và xã hội sẽ ra sao nếu thiếu hình bóng các nữ tu ?” Câu hỏi ấy cứ miên man trong suy nghĩ của con. Quả thế, các xứ đạo không có các Soeur, điều đó có thể cũng không quá tồi tệ, nhưng chắc hẳn, xứ đạo ấy sẽ thiếu đi một cái gì đó thật khó diễn tả. Nếu Soeur không hiện diện trong nhà thương, nơi các tổ chức từ thiện, hoặc trong các trường học, đó là điều mà người ta khó có thể tưởng tượng được. Tuy là người nữ chân yếu tay mềm nhưng tâm hồn Soeur luôn cháy lửa dâng hiến. Một khi nghe được tiếng Chúa kêu gọi, Soeur sẵn sàng đáp trả, ra đi dấn thân quên mình trong sứ vụ được trao. Cứ ngẫm nghĩ, con thấy Soeur thật tuyệt vời! Tuyệt vời bởi Soeur không chỉ là người phụ nữ như bao người nữ khác, nhưng Soeur còn là người thuộc về Chúa, dám vứt bỏ tất cả để chỉ chọn Chúa là hạnh phúc cho mình.

Soeur đã can đảm bỏ lại sau lưng tiếng gọi của tình yêu đôi lứa, quyết tâm chỉ chọn Chúa là người yêu đích thực cho mình. Trong suy nghĩ của nhiều người, Soeur là một kẻ bất bình thường, khi từ bỏ ước mơ xây dựng tổ ấm uyên ương để bước theo một Đấng vô hình. Tình yêu ấy đã giúp Soeur vui tươi sống đời độc thân Khiết tịnh vì Nước Trời, thay vì nên nghĩa vợ chồng. Ai bảo các Soeur không có người tình? ai nói các Sơ không biết yêu? Các Soeur cũng yêu say đắm và cũng sống trọn vẹn cho mối tình với Giêsu đấy chứ. Là người được thánh hiến, Soeur không cần điểm trang lộng lẫy nhưng Soeur vẫn toát lên vẻ đẹp thanh thoát, dịu dàng. Với Soeur, những thứ ấy không đẹp cho bằng chiếc Áo Dòng xinh xắn, không cao quý cho bằng chiếc lúp đội trên đầu.

Khi giữ mối tình chung thuỷ với Đấng mà Soeur đã chọn lựa, người Nữ tu của Chúa xa rời hấp lực của gấm vóc lụa là, của tiền tài danh vọng, giàu sang, chức quyền. Nhờ vậy mà đời tu của Soeur không sầu buồn như bao người vẫn thường nghĩ, không u ám như lắm người vẫn lầm tưởng, dẫu cho cuộc đời ấy vẫn đầy sóng gió và lắm nỗi truân chuyên. Con luôn hy vọng và tin tưởng Soeur luôn can đảm, không chùn bước khi phải đối diện với thử thách, gian nan trong cuộc đời. Có thể đôi lúc sức nặng của thập giá khiến bờ vai Soeur nặng chĩu và con tim phải nhức nhối, quặn đau, nhưng con tin, bờ vai Giêsu luôn là điểm tựa đỡ nâng Soeur mỗi ngày.

Với niềm vui thiêng liêng mà Soeur nhận được từ Thiên Chúa, ước mong người Nữ tu của Chúa có được nguồn sức mạnh tuyệt vời, để lướt thắng cám dỗ và thách đố trên đường sứ vụ. Hy vọng Soeur mãi là người yêu của Chúa, là món quà quý giá Thiên Chúa tặng ban cho Giáo hội và cho nhân loại hôm nay. Nếu lúc nào đó tình yêu trong Soeur có vơi đi, sức hấp dẫn của đời tu có yếu dần, thì xin Chúa hãy đến, ở lại và tiếp tục thắp lên ngọn lửa tình yêu để sưởi ấm cõi lòng, giúp Soeur sống đời thánh hiến cách thanh thoát, vui tươi và rạng ngời trong niềm tin yêu phó thác.

Gửi tới Sơ bao lời nguyện ước chân thành!

Thái Nguyễn

Nguồn: https://daminhtamhiep.net

Phần lớn những cuộc tranh chấp ở đời thường xoay quanh những chiếc ghế. Lúc đầu, ghế tượng trưng cho chức vụ, chức năng. Dần dần, nó tượng trưng cho chức quyền, chức tước.Ai cũng thích ghế cao và bảo vệ ghế của mình. Người Pharisêu thích ngồi ghế danh dự trong hội đường. Giacôbê và Gioan thích ngồi hai bên tả hữu Thầy Giêsu. Philatô cho đóng đinh Ðức Giêsu vô tội, vì ông sợ mất ghế.
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy các khách dự tiệc cứ chọn ghế nhất mà ngồi. Con người vẫn bị ám ảnh bởi những chiếc ghế. Chiếu trên, chiếu dưới chẳng phải là chuyện xưa ở đình làng. Ngày nay vẫn có những bạn trẻ cố kiếm được mảnh bằng và chỗ làm lương cao để ung dung hưởng thụ một chỗ đứng trong xã hội.

"Ai tôn mình lên, dù lộ liễu hay kín đáo, sẽ bị Thiên Chúa hạ xuống. Ai thực tâm hạ mình xuống qua việc phục vụ, sẽ được Thiên Chúa tôn lên." Ðức Giêsu mời ta vượt qua thói háo danh, để sống khiêm tốn. Khiêm tốn không phải là giả vờ tự hạ để được nâng lên. Khiêm tốn không phải là coi thường mình hay sợ người khác. Khiêm tốn không phải là rụt rè, không dám nhận trách nhiệm.
Khiêm tốn là biết mình đã nhận tất cả từ Chúa, và lớn lên mỗi ngày nhờ tha nhân. Người khiêm tốn không sợ chức vụ cao hay ghế nhất. Chiếc ghế không phải là mục đích họ cần chiếm được, nhưng là phương tiện để phục vụ mọi người. Chức vụ cho họ cơ hội cúi xuống thật gần với nỗi đau của nhân loại đang chờ họ giúp đỡ. Người khiêm tốn không tự tìm vinh quang cho mình, họ hồn nhiên vô tư để Thiên Chúa tự do định liệu. Chúng ta dễ đánh giá người khác dựa trên ghế của họ. Nhưng một người quét đường có lương tâm còn giá trị hơn một giám đốc tham ô lãng phí.

Ðức Giêsu nói đến việc chọn khách để mời ăn. Ngài khuyên nên mời những kẻ nghèo khó, tật nguyền, hơn là mời những người ruột thịt, thân quen, giàu có. Ngài đưa chúng ta vượt qua óc tính toán vụ lợi, để đi vào thế giới của những người bất hạnh. Chúng ta thường thích giao du với người có thế giá, có học thức, có của cải, để dễ nhờ vả khi cần. Chính vì thế xã hội vẫn còn nhiều người bị bỏ rơi, vì nghèo túng, kém cỏi về mọi mặt. Hãy ra khỏi thế giới quen thuộc của mình, để đến với những người cần chúng ta hơn. Bao trẻ em ở vùng xa cần giáo viên. Bao bệnh viện ở các huyện cần bác sĩ. Ước gì chúng ta hạnh phúc khi cho không tính toán vì thấy mình đã nhận được gấp trăm điều mình cho.

Cầu Nguyện

Giữa một thế giới
chạy theo tiện nghi, hưởng thụ,
xin cho con biết bằng lòng với cuộc sống đơn sơ.

Giữa một thế giới còn nhiều người đói nghèo,
xin cho con đừng thu tích của cải.

Giữa một thế giới mà sự sống bị chà đạp,
xin cho con biết quý trọng phẩm giá từng người.

Giữa một thế giới không tìm thấy hướng sống,
xin cho con biết xây lại niềm tin.

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con cảm được
cơn đói đang giày vò bao người,
xin cho con nghe được lời mời của Chúa:
"Các con hãy cho họ ăn đi."

Ước gì chúng con dám trao
tất cả những gì chúng con có cho Chúa,
để Chúa trao tất cả những gì Chúa có
cho chúng con và cho cả nhân loại.

Tác giả Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Bài suy niệm Chúa Nhật 22 Năm C

Nguồn: https://phutcaunguyen.net