Vào một buổi sáng mùa thu của 25 năm về trước, con đò chầm chậm xuôi dòng đưa tôi từ bên này sông để sang bên kia bờ, nơi tôi sẽ bắt đầu một cuộc sống mới, khởi đầu cho lý tưởng mà tuổi 18 từng dệt mộng- Tu viện Chúa Quan Phòng Cù Lao Giêng. Tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác choáng ngợp và bỡ ngỡ khi đứng trước một kiến trúc cổ kính mà uy nghiêm, rộng lớn mà ấm áp này.

 Có thể nói lớp tôi may mắn là một trong số những lớp được nhập đệ tử tại Cù Lao Giêng (vì sau khi chia Tỉnh dòng thì nhập đệ tử theo Tỉnh dòng). Mặc dù thời gian ở Cù Lao Giêng không dài, nhưng tôi có cơ hội để nghe và “chạm” vào lịch sử, nơi mà các Sơ vẫn gọi là “ chiếc nôi của Hội dòng” đã từng in dấu chân của sáu chị nữ tu đầu tiên. Sở dĩ tôi nói là đã “chạm” vào lịch sử là bởi vì hàng ngày tôi sống dưới mái nhà được xây bằng những viên gạch do chính tay các sơ đúc ra. Có lần khi đi dạo ngoài đất thánh,một chú cô nhi đã chỉ cho tôi chỗ được cho là lò đúc gạch trước đây của các Sơ. Cái cảm giác lúc đó của tôi vừa ngỡ ngàng, vừa sung sướng, tôi nói với  Sơ giáo: “ Con đã thấy được chỗ đúc gạch của các Sơ rồi, sao mình không viết lại lịch sử nhỉ?” Sơ chỉ cười, rồi mọi chuyện cũng trôi vào quên lãng, vì lúc đó tôi cũng còn quá nhỏ. Cho đến hôm nay, khi ngồi viết những dòng này, cái cảm xúc ngày ấy lại ùa về. Tôi muốn viết một chút tâm tình để tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, cùng lòng kính phục của mình đối với quý Sơ, những người chị can đảm và liều lĩnh, dám từ bỏ tất cả để hiến thân cho sứ mạng loan báo Tin Mừng tại vùng Viễn Đông xa xôi này.

 1. Từ bỏ và … ra đi

Sống trong một đất nước phát triển về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật… người ta có thể tự do tận hưởng một cuộc sống đủ đầy và chất lượng. Thế nhưng, một số thiếu nữ đã can đảm “lội ngược dòng”, đánh đổi thanh xuân, khước từ hào môn, bỏ lại tình cảm lứa đôi… để bước vào tu viện với bốn bức tường lạnh lẽo, cùng những tiếng cầu kinh sáng tối và đời sống âm thầm hy sinh phục vụ, để tận hiến cho Thiên Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Rồi những biến động của thời cuộc, những tiếng mời gọi thôi thúc Hội dòng phải vươn xa hơn, phải “chèo ra chỗ nước sâu” theo lời mời gọi của Thầy Chí Thánh. Hội dòng đã làm một cuộc phiêu lưu ngoạn mục đến vùng Đông Dương để đáp ứng nhu cầu chăm sóc các trẻ em theo nguyện vọng của quý Đức Cha tại vùng truyền giáo này (x. Các nữ tu Dòng CQP tại Việt Nam – Lịch sử của một thế kỷ-trang 8-9). Chúng ta có thể hình dung trong số 150 nữ tu tình nguyện, bề trên đã chọn sáu chị từ độ tuổi 40 và nhỏ nhất là 28 tuổi, cái tuổi còn non nớt trong đời tu cũng như xã hội, cái tuổi còn bay nhảy và cần được Hội dòng bảo vệ, chăm sóc…Thế mà các chị đã dám từ bỏ vùng an toàn cùng với mọi tiện nghi để đi đến một nơi mà mình không hề biết. Lịch sử ghi lại như sau: “…trước tiên các chị tin chắc rằng mình đi Châu Á, tuy nhiên họ không biết chính xác là đi đâu, bởi vì một số tưởng rằng sẽ đi Trung Quốc.”( x. Các nữ tu Dòng CQP tại Việt Nam – Lịch sử của một thế kỷ - trang 5). Hình ảnh của các chị làm tôi nhớ lại hành trình ra đi của Abraham: đi theo lệnh của Đức Chúa mà không biết mình đi đâu. Các chị chắc hẳn không lường trước được những nguy hiểm đang chờ đợi mình phía trước mà chỉ biết lao mình theo lời mời gọi của con tim và tình yêu Đức Kitô thúc bách, để rồi mãi đến lúc chia tay, các chị mới cảm nhận được nỗi đau như xé lòng. Chúng ta hãy cảm nhận một chút tâm tình lúc đó của các chị: “Khi tôi thấy mình ở đây, một mình với các chị, tôi đã cảm nhận được sự trống vắng mà chúng tôi đang trải nghiệm. Tiếng vang động của xe lửa làm cho mình thêm yếu đuối,  nên tôi đã để cho những dòng lệ tự do tuôn tràn, tưởng chừng như nghẹn ngào” (x. Các nữ tu Dòng CQP tại Việt Nam – Lịch sử của một thế kỷ- trang 10). Có thể nói, các chị đã sống triệt để lời của thầy Giêsu: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi” (Lc 14, 26). Vào thời điểm đó, rời bỏ quê hương để đi truyền giáo thì coi như không hẹn ngày trở lại. Các chị biết và biết rất rõ điều đó, nhưng các chị đã can đảm hy sinh: tuổi trẻ, tiện nghi, sự an toàn, sức khỏe… để đến một nơi mà mọi thứ dường như đều thiếu thốn khiến Sơ Isabelle, bề trên lúc đó cảm thấy “nhiệm vụ này dường như vượt quá sức của mình”.

 2. Tinh thần truyền giáo không mỏi mệt

 Lệnh truyền của Chúa Giêsu trước khi về trời vẫn còn vang vọng: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu Phép Rửa thì sẽ được cứu độ.” (Mc 16,15-16). Hơn 2000 năm qua, từng lớp lớp môn đệ của Ngài đã lên đường, bất chấp gian khổ, hiểm nguy, bắt bớ để từ con số 12 nhỏ bé đến hôm nay đã có khoảng 2,4 tỷ người Kitô hữu, trở thành Tôn giáo có tín đồ cao nhất trên thế giới, chiếm khoảng 1/3 dân số toàn cầu.

Cha Á Thánh Gioan Martinô Moye đã để cho lệnh truyền của Chúa Giêsu tác động và thúc bách. Khi thời điểm chín muồi, cha hỏi ý kiến cha Bertin thì được câu trả lời: “ Nếu bây giờ cha không đi truyền giáo, thì bao giờ cha mới đi?” Câu trả lời này được cha Moye khẳng định: Đây có thể là ý Chúa muốn cha lên đường truyền giáo. Vậy là cuối năm 1771 cha lên đường sang Trung Hoa. Cuộc sống của một nhà thừa sai đầy dẫy những nguy hiểm: bắt bớ, đánh đập, tù đày; thiếu những nhu cầu sống của bản thân: thức ăn, quần áo…nhưng trong những ngày tháng đen tối đó, bao tâm hồn đã được biết Chúa, bao công trình được thành lập: Công trình thiên thần (1778), mở các trường học (1780)…

Nối tiếp tấm gương sáng ngời của Cha Á Thánh, các nữ tu Chúa Quan Phòng cũng không  ngồi yên trước những nhu cầu của xã hội và Giáo hội. Sáu chị nữ tu đầu tiên đến Việt Nam đã không chờ đợi giây phút nào, các chị muốn thực hiện ngay nhiệm vụ của mình. Lịch sử ghi nhận như sau: “ các chị vội vàng đến Cù Lao Giêng, là mục tiêu chính của cuộc hành trình…”, “các chị thậm chí không muốn lấy thời gian vài ngày để nghỉ ngơi tại Sài Gòn. Họ muốn đi tức khắc…” Lòng nhiệt thành truyền giáo và con tim của người thừa sai đã khiến các chị làm việc không ngừng nghỉ: vừa chăm sóc các trẻ em, vừa lao động chân tay để tạo thu nhập: nuôi bò sữa, làm cà phê và bơ, trồng rau, trồng cây dâu tằm để kéo kén se sợi, tạo điều kiện cho các thiếu nữ Việt Nam có thể học nghề. Một dự kiến mở Tập viện để huấn luyện đời sống tu cho các thiếu nữ cũng được thực hiện. Nếu đọc từng trang lịch sử, chúng ta không thể nào hình dung hết những khó khăn và thách đố mà các chị đầu tiên đã trải qua. Thế nhưng, những gì mà các chị đã làm, những công trình mà các chị để lại đáng cho chúng ta ngưỡng mộ và noi theo: “ Một lần nữa, chúng ta nhận thấy rằng, các nữ tu tiên phong đã ra đi với hành trang chính là lòng nhiệt thành và một sức mạnh tâm hồn đáng cho chúng ta ngưỡng mộ. Tuy nhiên, chúng ta cũng hiểu rằng các nữ tu cũng đã trải nghiệm những lúc nản lòng.” (x. Các nữ tu Dòng CQP tại Việt Nam – Lịch sử của một thế kỷ-trang 19). Công cuộc truyền giáo của các chị không chỉ bó hẹp ở Cù Lao Giêng mà nó phát triển đến các tỉnh thành khác như: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Châu Đốc, Rạch Giá… những nơi có các nữ tu Chúa Quan Phòng hiện diện đều đặc tả rõ nét dung mạo lòng thương xót của Thiên Chúa.

Tiếp nối sáu chị nữ tu đầu tiên, nhà mẹ Portieux lần lượt gửi thêm một số nữ tu khác đến Việt Nam để tiếp tục công cuộc truyền giáo trên mảnh đất vốn còn đầy khó khăn và lạc hậu, nhờ đó mà nhiều tâm hồn được biết Chúa, nhiều thiếu nữ tìm đến gõ cửa Tu viện và một thế hệ nữ tu mới bắt đầu. Lời Cha Á Thánh đã trở thành hiện thực: “ Nếu là ý Chúa, các con hãy lớn lên và tăng số.”

Mừng 150 năm không chỉ là mừng một sự kiện, mà là cơ hội để “ôn cố tri tân”. Nhưng quan trọng và trên hết là tạ ơn Thiên Chúa Quan Phòng đã gìn giữ, che chở và làm cho Hội dòng ngày càng phát triển suốt 150 năm qua bất chấp những bắt bớ của thời cuộc và chiến tranh.

Tri ân những người chị đã kiên cường không bỏ cuộc trước những gian nan thử thách, từng bước xây dựng đời sống tinh thần cũng như vật chất để thế hệ chúng em được thừa hưởng những di sản quý báu ấy.

Mừng 150 năm cũng là lời hứa với tương lai rằng sẽ tiếp nối tinh thần của các chị: dám từ bỏ vùng an toàn để đáp ứng lời mời gọi của Hội dòng: “Nới rộng lều” theo định hướng của Tổng Tu Nghị 2022 và lời nhắc nhở của Đức Cố Giáo Hoàng Phanxicô “hãy đến những vùng ngoại biên” để đem tình thương và lòng thương xót của Chúa đến với những người nghèo và bị bỏ rơi trong thế giới hôm nay.

 

Sr. Ter. Trúc Băng

Tỉnh Dòng Cần Thơ