Năm phụng vụ diễn tả lịch sử cứu độ và tuyệt đỉnh của lịch sử này là cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô.

Năm phụng vụ có năm mùa nhưng tựu trung chỉ mừng một mầu nhiệm duy nhất – mầu nhiệm cứu độ: Chúa Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta.

Năm mùa phụng vụ đều quy về chính Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ. Ngài là Con Thiên Chúa nhập thể, đã sinh ra, đã chết, đã sống lại, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, và gởi Thánh Thần đến với Giáo hội.

Các ngày lễ về các Thánh nói lên thành quả của ơn cứu độ. Mỗi vị Thánh được tôn phong hàng ngày là một bằng chứng sống động về sự thành công của ơn cứu độ. Các ngày lễ này có hai cao điểm:

– Lễ Đức Maria hồn xác lên trời là chiều cao và chiều sâu của ơn cứu độ. Thiên Chúa cứu độ là cứu cả hồn xác, toàn diện con người: “Người đã đoái thương nhìn đến phận hèn tớ nữ…Người đã làm những điều cao cả”.

– Lễ các Thánh Nam Nữ là chiều rộng của ơn cứu độ:Lòng thương xót của Chúa trải rộng từ đời nọ đến đời kia”.

Theo lời Sách Khải Huyền, Các Thánh trên trời là “một đoàn người đông đảo, không sao đếm nổithuộc mọi dân, mọi nước, mọi ngôn ngữ”. Họ đang chúc tụng Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai và Con Chiên, là Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Độ chúng ta.

Trong lịch Phụng Vụ của Giáo Hội Công Giáo, hầu như trong thánh lễ Misa nào cũng có mừng kính thánh này thánh kia; tuy nhiên vẫn chưa thể mừng hết được. Bởi chưng hơn 10 ngàn vị đã được Giáo Hội tôn phong hiển thánh, mỗi một năm chỉ có 365 ngày, cho nên không thể nào mừng kính tất cả Các Thánh từng ngày trong  năm phụng vụ. Vì vậy, ngày 01/11, mừng toàn thể Chư Thánh trên Thiên Quốc, cả những vị thánh chưa được tôn phong chưa được ai biết đến, là trọn tình vẹn nghĩa nhất.

1. Các Thánh Nam Nữ là ai?

Các Thánh Nam Nữ là những phúc nhân (chữ của Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc), những người đang hưởng hạnh phúc đời đời bên cạnh Thiên Chúa. Các Ngài là tất cả những người đã chết trong ơn nghĩa Chúa, đang thuộc trọn về Chúa. Các Ngài sung sướng, vui mừng vì thấy mình được Thiên Chúa yêu thương, được thấy Thiên Chúa tốt lành.

Các Thánh Nam Nữ là những người đã thực hiện những điều mà Thánh Phanxicô Assidi dệt thành Kinh Hòa Bình: Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm…

Các Thánh Nam Nữ đông vô kể: “Tôi lại thấy một Thiên Thần khác, mang ấn của Thiên Chúa hằng sống, từ phía mặt trời mọc đi lên… Rồi tôi nghe nói đến con số những người được đóng ấn: một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn” (Kh 7,2-4). Con số “một trăm bốn mươn bốn ngàn” chỉ là một cách nói để bày tỏ sự viên mãn và hoàn hảo của dân Thiên Chúa, dân mới được Thiên Chúa cứu chuộc, thuộc về Thiên Chúa, chứ không thể hiểu theo nghĩa số học, số lượng. “Một trăm bốn mươn bốn ngàn” trong Khải huyền là một con số tượng trưng, một con số tròn đầy (12 x 12 = 144). Số kẻ được niêm ấn là tròn đầy. Và điều tuyệt diệu là trong thị kiến Khải huyền chi tộc nào cũng có số người được niêm ấn như nhau:12 ngàn thuộc chi tộc Giuđa,12 ngàn thuộc chi tộc Ruben,12 ngàn thuộc chi tộc Gad…không tên họ nào lấn lướt, không tên họ bị loại trừ. Các chi tộc đều được Thiên Chúa kêu mời đầy đủ. Bởi ngay sau đó, thánh Gioan viết tiếp: “tôi thấy: kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nỗi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành thiên tuế” (Kh 7,4).

Một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi. Đó là cộng đoàn các Thánh Nam Nữ. Quả là đang trở thành hiện thực nơi Lời Chúa Giêsu đã thốt lên khi gặp được lòng tin của viên bách quản: “Ta bảo thật các ngươi,nhiều kẻ tự phương đông,phương đoài mà đến và được dự tiệc cùng Abraham,Isaac và Giacop trong nước trời”.

Chính vì thế, ngoài những vị thánh mà Giáo Hội đã xác định được và đã kính nhớ các Ngài vào các ngày lễ trong năm, Giáo Hội còn dành ra một ngày lễ đặc biệt để long trọng kính nhớ hằng hà sa số các vị thánh mà Giáo Hội chưa hoặc không thể xác định được, gọi chung là Các Thánh Nam Nữ. Chúng ta mững lễ các Thánh Nam Nữ là mừng Nhà Cha rộng lớn như lòng Thiên Chúa, đủ chổ cho mọi dân tộc.

2. Bí quyết nên thánh

Thánh Gioan viết: “Một trong các kỳ mục lên tiếng hỏi tôi: những người mặc áo trắng kia là ai vậy? Họ từ đâu tới? Tôi trả lời: thưa Ngài, Ngài biết đó. Vị ấy bảo tôi: Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao” (Kh7,13).Thánh Tông đồ đã nhìn thấy họ trên Thiên đàng, tràn đầy hân hoan, ca hát chúc tụng Thiên Chúa : “Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,14). Quả thực, việc thanh tẩy tội lỗi chỉ thành tựu nhờ máu Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, các Thánh đã phải trải qua cuộc gian truân lớn. Vì tình yêu Đức Kitô, tất cả đã phải giao chiến với quyền lực của sự dữ, với muôn nghìn đau khổ và khó nhọc. Nhưng thánh Gioan cũng giới thiệu phần thưởng lớn lao của các Ngài: “Họ đêm ngày thờ phượng trong đền thờ của Thiên Chúa… Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh” (Kh 7,15-17).

Các Thánh “đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên”. Như thế, họ không phải là những con người hoàn hảo,thánh thiện,tinh tuyền,không vướng mắc lỗi lầm thiếu sót hay tật xấu nào. Không ai bẩm sinh đã là Thánh. Các Thánh cũng không phải là những siêu nhân, không là những con người phi thường vượt trên đám đông nhân loại.Các Thánh càng không phải là những người bất thường kỳ dị. Các Thánh là những con người bình thường như mọi người,nhưng các Ngài đã sống những điều tầm thường một cách phi thường. Nhờ Ơn Chúa trợ lực, các Ngài đã cố gắng tiến tới mẫu mực của mình là Chúa Kitô. Bí quyết nên thánh của các Ngài là sống Tám Mối Phúc Thật, là đón nhận ân sủng của Chúa vô điều kiện, hợp tác với ân sủng đó, vâng theo ý Chúa, chọn điều thiện, luyện tập nhân đức.

Có rất nhiều vị thánh bởi vì có rất nhiều cách để nên thánh, nhiều con đường nên thánh. Trong bài Tám Mối Phúc Thật, Chúa Giêsu đã trình bày tám con đường nên thánh, tám con đường để được hạnh phúc đích thực.

Có người nên thánh, vì sống khó nghèo, không ham mê của cải trần gian, chỉ ham mê một điều là thích được Chúa yêu và đáp trả lại tình yêu của Chúa. Có người nên thánh, vì sống hiền lành, tử tế với mọi người, nhịn nhục, yêu thương mọi người không trừ một ai. Có người nên thánh, vì đã phải chịu đau khổ nhiều mà không ngã lòng thất vọng, còn biết dùng những đau khổ của mình, kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, dâng lên cho Thiên Chúa làm của lễ. Có người nên thánh, vì có lòng nhân từ quảng đại và hay tha thứ, có lòng xót thương xót đối với những người đau khổ tinh thần hay thể xác. Có người nên thánh, vì khao khát Chúa, muốn sống công chính đẹp lòng Chúa. Có người nên thánh vì tâm hồn trong sạch, không vương vấn tội lỗi trần gian, không bị các thứ đam mê xác thịt làm chủ. Có người nên thánh vì hiếu hòa, không gây hấn với ai, mà còn dấn thân hoà giải những người khác, đem lại bình an cho mọi người. Có người nên thánh, vì sống tốt, sống ngay thẳng, trung thành với Chúa và giáo huấn của Người, dù phải bách hại khổ sở, có khi còn bị giết chết nữa. Mọi cuộc đời, mọi con người đều có thể nên thánh. Có những vị thánh không có tên trong lịch, nhưng vẫn được gần Chúa. Có những vị thánh nông dân chân lấm tay bùn, vất vả nuôi con. Có những vị thánh nội trợ âm thầm, quét nhà nấu bếp mà lòng lúc nào cũng vui. Có những vị thánh là những người con ngoan trong gia đình, hiếu thảo với cha mẹ, yêu thương quảng đại đối với anh chị em. Có những vị thánh là nữ tu, là chủng sinh, là linh mục, là giám mục. Có những vị thánh là những con người đam mê chân lý, như những nhà khoa học, những triết gia. Có những vị thánh là những nghệ sĩ làm đẹp cuộc đời bằng nhiều cách khác nhau, mang lại niềm vui cho mọi người. (ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc).

Tuy có nhiều cách thức nên thánh, có vị nên thánh trong bậc tu trì, có vị lại nên thánh trong đời sống gia đình, có vị nên thánh bằng các hoạt động tông đồ năng nổ, có vị nên thánh trong một đời sống âm thầm, lặng lẽ, có vị nên thánh nơi pháp trường đẫm máu, có vị nên thánh chốn sa mạc cô liêu… Nhưng tựu trung, tất cả các thánh đã gặp nhau trên một con đường. Đó là con đường hẹp, con đường thập giá, Chúa Giêsu đã đi “qua đau khổ đến vinh quang”.

“Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống

Mùa gặt mai sau khấp khởi mừng”.

Chỉ mình Thiên Chúa mới là Đấng Thánh, còn con người được mời gọi trở nên thánh khi tham dự vào sự thánh thiện duy nhất của Thiên Chúa. Các Thánh được tuyên phong lên bậc hiển thánh bởi vì cuộc đời các ngài là một tấm gương phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa. Ai giống Đức Kitô, người ấy trở nên thánh thiện. Ai thực hiện những giá trị Tin mừng, người ấy trở nên thánh thiện. Một sự thánh thiện như thế rất có thể được thực hiện trong một đời sống rất bình thường. Giáo hội hướng tới một sự thánh thiện tỏa rộng, một hình thức thánh thiện vừa bình dân, vừa gần gũi lại vừa có thể được thực hiện cho hết mọi người, thay vì một hình thức thánh thiện chọn lọc, dành riêng cho một thiểu số. Đó là thành quả Ơn Cứu Độ của Chúa Kitô. Giáo Hội phong thánh để tôn vinh Thiên Chúa và khuyến khích chúng ta noi theo gương sống của Các Thánh.

3. Ơn gọi lớn nhất của con người là nên thánh

Mọi người Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh. Đó là một ơn gọi rất cao cả như lời Chúa Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Công Ðồng Vatican II cũng lập lại ý tưởng đó: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (GH 11.3). Trong các thư của Thánh Phaolô, ngài gọi các tín hữu là những vị thánh. Qua Bí Tích Rửa Tội, mọi tín hữu được tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Đức Chân Phước Gioan Phaolô II nói rằng: thành công đẹp nhất của một cuộc đời là sự thánh thiện. Tin Chúa, yêu Chúa và sống theo lời Chúa dạy qua Tám Mối Phúc Thật, mọi tín hữu sẽ nên thánh.

Trong Năm Phụng Vụ, Giáo hội tôn kính nhiều vị Thánh có tên tuổi. Ngày lễ các Thánh Nam Nữ, Giáo hội tôn kính tất cả các vị Thánh, trong đó có ông bà cha mẹ, những người thân yêu đã ra đi trước chúng ta và đã trở nên thánh nhân, mặc dù chưa được Giáo hội tuyên phong.

Trở nên giống Chúa Giêsu, trở nên trọn lành như Chúa Cha ở trên trời, trở nên thánh, đó là ơn gọi của mọi người Kitô hữu chúng ta và đó cũng là sứ điệp Chúa Giêsu và Giáo Hội muốn nhắn gửi qua ngày lễ kính Các Thánh Nam Nữ.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Nguồn: https://daminhtamhiep.net

Write comment (0 Comments)

Để hướng dẫn người khác, người lãnh đạo cần phải hội đủ những đức tính cần thiết và có nghệ thuật lãnh đạo một cách khôn ngoan để thu phục lòng người, mang lại sự thành công và kết quả tốt đẹp cho tổ chức hay đoàn thể mà mình trực tiếp chịu trách nhiệm...

(Bài thuyết trình II cho Huynh Trưởng TNTT – Hà Tĩnh)

  1. ĐỊNH NGHĨA TỔNG QUÁT

Người lãnh đạo là người đứng đầu, người hướng dẫn, chỉ huy một đơn vị, một tổ chức, một đoàn thể.

Nói cách khác, người lãnh đạo là người có khả năng điều hành và hướng dẫn kẻ khác trong phạm vi và trách nhiệm của mình tới những mục đích và thiện ích chung.

Để hướng dẫn người khác, người lãnh đạo cần phải hội đủ những đức tính cần thiết và có nghệ thuật lãnh đạo một cách khôn ngoan để thu phục lòng người, mang lại sự thành công và kết quả tốt đẹp cho tổ chức hay đoàn thể mà mình trực tiếp chịu trách nhiệm.

  1. NHỮNG PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO
  2. Lối lãnh đạo độc đoán (authoritarian leadership): lối lãnh đạo áp đặt ý riêng, một chiều, không tôn trọng người khác, tránh thảo luận và tương tác.
  3. Lối lãnh đạo tự do (laissez faire): “mặc kệ bay” muốn làm gì làm, trốn trách nhiệm, hời hợt.., tránh thảo luận và tương tác của các thành viên.
  4. Lối lãnh đạo dân chủ (democratic leadership): Mời gọi các thành viên tham dự để đạt mục đích chung, cởi mở và dễ dàng thảo luận, chú ý tới sự tương tác, tôn trọng ý kiến và góp ý của người khác (ngày nay, lối lãnh này được áp dụng nhiều trên thế giới).
  5. Lối lãnh đạo phục vụ (servant leadership): Đây là phong cách lãnh đạo mà Chúa Giêsu đã mở ra cho chúng ta: nghĩa là lãnh đạo như người phục vụ, vì người khác và lợi ích chung.

    Write comment (0 Comments)

Giúp lễ là tham dự tích cực vào phụng vụ thánh lễ, trước và trong khi dâng lễ. Sau đây là năm lý do đơn giản để chúng ta thấy được lợi ích khi khuyến khích con em học giúp lễ.

Vai trò của người giúp lễ là phụ linh mục trong thánh lễ. Công việc này thường được giao cho các em khi các em lên bảy. Các em góp phần tạo nên nét đẹp và thanh cao cho buổi lễ. 

1. Giúp linh mục và thầy phó tế

Đúng là linh mục có thể dâng thánh lễ mà không cần người giúp lễ. Tuy nhiên nếu có các em giúp lễ thì sẽ làm cho công việc của linh mục được dễ dàng hơn. Như thế, ngay từ khi 8 tuổi, cha mẹ nên khuyến khích các em tham dự vào ban giúp lễ để phục vụ linh mục và qua đó là phục vụ Chúa Giêsu! 

2. Sốt sắng tham dự thánh lễ

Đa số trẻ em thấy thánh lễ quá dài, tuổi các em còn nhỏ nên khó làm cho các em tập trung và thấy được chiều sâu của thánh lễ. Giúp lễ là cùng “làm việc” với linh mục, giúp cho các em ý thức cầu nguyện, chăm chỉ theo dõi thánh lễ, lâu dần tạo cho các em thói quen chú ý và thấm nhập sâu đậm vào thánh lễ.

3. Gieo mầm ơn gọi

Tuy không thúc đẩy các em phải vào chủng viện, nhưng khi giúp lễ, các em thấy được sự cao cả và nét đẹp của đời sống phụng vụ. Các bé trai thường thích quan sát công việc của cha mình, thầm nuôi ý muốn sau này nối nghiệp cha, khi các em thường xuyên tiếp xúc với mầu nhiệm thánh thể sẽ giúp cho các em làm quen với ơn gọi, đôi khi đánh động được các em. 

4. Khám phá huyền nhiệm của phụng vụ

Đứng bên cạnh linh mục, theo dõi linh mục trong từng động tác phụng vụ, trẻ em giúp lễ thường thấy các việc mà nhiều khi cha mẹ không để ý: từng động tác mang ý nghĩa này, biểu tượng kia mà nhiều khi ở ghế quỳ chúng ta không thấy rõ, cách linh mục để tay, làm dấu thánh giá kín đáo trên bánh lễ, sách lễ hay làm phép trên khăn thánh. Và để cầu nguyện và hướng về Chúa, bàn thờ là nơi gần với Nhiệm thể và Máu thánh Chúa Giêsu.

5. Được vui

Trong một vài giáo xứ, sáng chúa nhật trẻ em còn mau chân chạynhanh  đến nhà thờ để được giúp lễ! Và nếu có thể, chúng còn ‘giữ chỗ’ cho các bạn của mình đến sau! Đó là một cách tích cực để đến với cầu nguyện, một cách lành mạnh để các em hướng về Chúa. Dĩ nhiên thánh lễ không phải để chơi, nhưng giúp lễ cũng là một cách để tập sốt sắng, để thánh hóa cho các em còn nhỏ, người ta vẫn thường hay nói một ông thánh buồn là một ông thánh quá buồn đó sao! Thấy các em giúp lễ với nụ cười trên môi, cùng một nhóm bạn vui vẻ thì người tham dự thánh lễ sẽ vui theo các em!

Năm 1931, cha Lemée, cha xứ địa phận Nantes viết một tác phẩm cho các em muốn giúp lễ, “Cẩm nang của các em giúp lễ”. Lời nói đầu của cha là lời mời gọi phục vụ cho phụng vụ và cho đức tin: “Nếu chúng ta nghĩ linh mục là sứ vụ viên của Chúa, đại diện của Chúa Giêsu Kitô thì các em giúp lễ có phẩm cách biết chừng nào! Các bậc vị vọng, các hoàng tử, các ông vua thỉnh thoảng giúp lễ và họ đã hãnh diện biết chừng nào. Các con giúp lễ, trong vòng bạn bè của các con, các con hãy tự hào về chức vị của các con, về đức tin của các con”.

 

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nguồn: https://phanxico.vn

Write comment (0 Comments)

Lý thuyết của Erikson vào năm 1959 về phát triển tâm lý xã hội có tám giai đoạn riêng biệt. Giống như Freud, Erikson giả định rằng ở mỗi giai đoạn phát triển đều có khủng hoảng xảy ra. Theo thuyết ông viết vào năm 1963, các cuộc khủng hoảng có tính chất tâm lý xã hội bởi vì chúng có liên quan đến nhu cầu tâm lý cá nhân mâu thuẫn với nhu cầu của xã hội.

Theo lý thuyết, mỗi giai đoạn hoàn thành thành công tạo nên kết quả là một nhân cách lành mạnh và thu thập những đức tính căn bản. Những đức tính này là thế mạnh đặc trưng mà cái tôi (ego) có thể sử dụng để giải quyết cuộc khủng hoảng đến sau.

Thất bại trong việc hoàn thành một giai đoạn có thể dẫn đến việc giảm khả năng hoàn thành các giai đoạn tiếp theo và còn dẫn đến nhân cách và cảm nhận về bản thân không lành mạnh. Các giai đoạn này, tuy nhiên, có thể được giải quyết thành công sau này.

Write comment (0 Comments)

Dẫn nhập

Loan báo Tin Mừng luôn là sứ mệnh cấp thiết mà Đức Kitô mời gọi Giáo Hội thi hành dù ở bất cứ thời đại nào. Tuỳ thuộc vào những hoàn cảnh đặc thù và sự tiến triển của xã hội mà mỗi giai đoạn Giáo Hội định ra cho mình phương thức rao truyền Lời Chúa theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Trong thời đại hôm nay, đứng trước nhu cầu phục vụ lợi ích thiêng liêng, Giáo Hội đã khôn ngoan đưa ra những sáng kiến và can đảm sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội trong công cuộc loan báo Tin Mừng.

“Vì được Chúa Kitô thiết lập để mang lại phần rỗi cho hết mọi người và do đó có nhiệm vụ rao giảng Phúc Âm, Giáo hội Công giáo nhận thấy mình cũng có bổn phận dùng cả phương tiện truyền thông xã hội để loan báo ơn cứu rỗi và dạy con người biết sử dụng chúng cách đúng đắn”(Vatican II, IM, số 4).

  1. Truyền thông và các phương tiện truyền thông xã hội

Truyền thông được sử dụng nhiều ở các lĩnh vực khác nhau và theo nghĩa rộng nhất của nó là sự tạo ra mối liên hệ giữa hai đối tượng có thể mang bản chất sự sống hay không. M. Weber đã định nghĩa “truyền thông như là phương diện của tương tác xã hội làm sáng tỏ các nghĩa mang tính chủ quan của một hành động xã hội” (G. Endruweit và G. Trommsdorff, Từ điển Xã hội học, NXB. Thế Giới, 2002, tr. 518).

Phương tiện truyền thông xã hội, theo Mark Dykeman, “là những phương tiện cho bất kỳ người nào tới: xuất bản nội dung kỹ thuật số sáng tạo, cung cấp và có được thông tin phản hồi thời gian thực thông qua các cuộc thảo luận trực tuyến, bình luận, và đánh giá; và kết hợp các thay đổi hoặc cải chính với nội dung ban đầu”.

  1. Giáo huấn của Giáo Hội về truyền thông xã hội

    Quan tâm đến những vấn đề đang được đặt ra cho Giáo Hội trong giai đoạn mới, ngoài các hiến chế, sắc lệnh, tuyên ngôn mang tính nền tảng, Công đồng Vatican II còn đưa ra Sắc lệnh về các Phương tiện Truyền thông Xã hội (Inter Mirifica). Đây là Sắc lệnh mang tính chất cụ thể và mục vụ, “kết thúc một giai đoạn ý thức về sự lợi hại của các phương tiện, và mở ra một giai đoạn lịch sử mới, là giai đoạn tổ chức lại những nỗ lực của tất cả những người và những cơ quan Công giáo đang hoạt động trong lĩnh vực truyền thông” (IM, Lời giới thiệu).

Lý do thúc đẩy Công đồng quan tâm đưa ra Sắc lệnh Inter Mirifica, đó là: “Giáo Hội là Mẹ cũng biết rằng những phương tiện đó, nếu được sử dụng đúng đắn sẽ mang lại những lợi ích hữu hiệu cho nhân loại vì chúng đóng góp rất nhiều vào việc giải trí, huấn luyện tinh thần cũng như việc mở rộng và củng cố Nước Chúa. Giáo Hội cũng biết rằng con người có thể dùng chúng nghịch lại với ý định của Đấng Tạo Hoá, và làm nguy hại cho chính mình; hơn nữa Giáo Hội là Mẹ hết sức đau lòng vì những thiệt hại quá thường xảy ra cho xã hội con người do việc cố ý dùng sai những phương tiện này” (số 2).

Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo cũng đề cập đến vai trò, mục đích và những định hướng luân lý khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội (số 906, 2492-2496).

“Trong xã hội hiện đại, các phương tiện truyền thông xã hội có một vai trò quan trọng trong việc thông tin, việc thăng tiến văn hoá và việc giáo dục đào tạo…” (số 2493).

Các sứ điệp nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội, nhất là những sứ điệp gần đây (42, 43, 44) đã trực tiếp đề cập đến thực trạng của truyền thông xã hội trong đời sống xã hội nói chung và cách riêng với công cuộc rao giảng Tin Mừng.

Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 44 đã nêu bật tính bổ trợ giữa hoạt động truyền thông và sứ vụ loan báo Tin Mừng: “…Quả thế, khi nắm trong tay những phương tiện mang lại một khả năng diễn đạt hầu như vô hạn, thế giới kỹ thuật số mở ra những viễn ảnh hiện tại hoá đáng kể cho lời khích lệ của Thánh Phaolô: “Vô phúc cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng!” (1 Cr 9,16). Do đó, với việc phổ biến chúng, trách nhiệm loan báo không chỉ gia tăng, nhưng còn trở nên cấp bách hơn và đòi hỏi một sự dấn thân có động cơ và hữu hiệu hơn…”.

  1. Thực trạng truyền thông xã hội hôm nay

* Những tác động tích cực

Nhờ các phương tiện truyền thông xã hội, nhân loại hôm nay đang xích lại gần nhau hơn để cùng trao đổi, học hỏi và cùng nhau hành động theo những gợi mở tinh tuý, bổ ích từ những nền văn hoá khác nhau. Nó hỗ trợ đắc lực cho công cuộc đối thoại để hướng tới mục tiêu hiệp nhất mà loài người đang theo đuổi. Một khi chúng ta đã tìm được tiếng nói chung, cũng có nghĩa là chúng ta đã sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm quý và những định hướng tốt nhất cho những vấn đề chung cấp bách hiện nay: xung đột sắc tộc, tôn giáo, nghèo đói, giáo dục, môi trường… Các phương tiện truyền thông sẽ giữ vai trò tiên phong cho tiến trình này một khi con người biết khôn ngoan sử dụng nó. Như Tuyên ngôn của Hội đồng Giám mục Ấn Độ về vai trò của các phương tiện truyền thông xã hội, đã phần nào nói lên điều này:

“Chúng tôi vui mừng ghi nhận rằng các phương tiện truyền thông chính yếu tại Ấn Độ cách chung đã góp phần quan trọng trong việc cổ vũ cho những giá trị dân chủ và dân sự. Đôi khi trước áp lực mạnh đến từ những thế lực đối nghịch, các phương tiện truyền thông này đã cố gắng bảo vệ những quyền lợi của các công dân, nhất là của những kẻ yếu thế và thuộc thành phần thiểu số. Chúng tôi nói lên tâm tình biết ơn đối với các phương tiện truyền thông này vì đã góp phần đáng kể, để giải phóng xã hội Ấn Độ khỏi những thế lực tối tăm, như kỳ thị giai cấp, lòng thù ghét giữa các nhóm, nạn tham nhũng và tội phạm. Chúng tôi ngưỡng mộ tất cả những ai giữ vững lập trường trong một thế giới tranh giành thị trường, để không “loan tin giật gân”, không cổ vũ lòng hận thù trong xã hội. Họ đã chứng tỏ rằng các phương tiện truyền thông có một vai trò tiên tri, một ơn gọi, là biết nói lên tiếng nói chống lại những thần tượng giả tạo và những lý tưởng chóng qua, như chủ thuyết duy vật, chủ thuyết hưởng thụ và tinh thần quốc gia hẹp hòi”.

Đối với các gia đình, các phương tiện truyền thông hiện đại đã đem lại cho họ những thụ hưởng to lớn về thông tin, tri thức giáo dục, văn hoá – xã hội và cả những đáp ứng giúp tăng trưởng về đời sống tâm linh mà trước đây đa số các gia đình không dám nghĩ tưởng đến.

Các phương tiện truyền thông, đặc biệt là Internet, đã góp phần đem lại nhiều thành tựu đáng kể cho công cuộc loan báo Tin Mừng hiện nay. Nó không chỉ giúp cung cấp một lượng kiến thức khổng lồ liên quan đến giáo huấn của Giáo Hội mà còn liên tục cập nhật, phản ánh nhanh chóng các nỗ lực trong hoạt động truyền giáo khắp nơi. Đặc biệt, chính các phương tiện này đã bắc nhịp cầu liên đới giữa các cá nhân, các nhóm, các tổ chức rộng lớn khi thi hành sứ vụ tông đồ; nhờ đó, các đối tượng này có cơ hội chia sẻ những kinh nghiệm quý và có thể tương trợ những nguồn lực quan trọng trong diễn trình truyền rao Lời Chúa. Và đây chính là con đường vô hình tốt nhất cho Lời Chúa lan toả đến mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nêu lên trong Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 44: “… Lời Chúa sẽ có thể băng qua những ngã đường vô số được tạo nên do mạng lưới giao nhau của những đường cao tốc đang cày nên không gian mạng và khẳng định “quyền công dân” của Thiên Chúa cho dầu vào thời đại nào, để xuyên qua những hình thức truyền thông mới mẻ, Ngài có thể tiến bước trên những con đường dài của thành phố và dừng lại ở ngưỡng cửa của những mái nhà và những tâm hồn để vẫn còn nói: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, Ta sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20).

Một kinh nghiệm thực tế cho thấy vai trò của các trang mạng Công giáo trong đợt mưa lũ lịch sử vừa qua tại miền Trung Việt Nam. Các trang tin này đã liên tục cập nhật tin tức, hình ảnh liên quan đến các vùng bị thiệt hại nặng nề do lũ lụt, nhờ đó đã giúp cho đồng bào, đồng hương từ khắp muôn phương kịp thời nắm bắt tình hình và nhiệt tâm cứu trợ trên tinh thần “con một Cha, nhà một Chúa”.

* Những hạn chế và bất cập

Bên cạnh những tác động tích cực đối với xã hội, các gia đình và Giáo Hội, các phương tiện và hoạt động truyền thông xã hội hiện vẫn tồn tại những hạn chế và bất cập.

Mối bận tâm nhất liên quan đến hiệu quả của hoạt động truyền thông hiện nay chính là vấn đề đạo đức truyền thông. Theo tác giả Thiên Phong khi bàn về “Truyền thông, những bất cập…”, thì “điều khủng khiếp thật sự, đó là khi người ta làm truyền thông một cách phi đạo đức truyền thông (không thật, không công bằng)…” (Web Xuân Bích Việt Nam). Thực trạng này cũng được nêu lên trong bản Quan điểm của Hội đồng Giám mục Việt Nam về một số Vấn đề trong Hoàn cảnh Hiện nay“Trong tiến trình giải quyết những tranh chấp, một số phương tiện truyền thông thay vì là nhịp cầu liên kết và cảm thông thì lại gieo rắc hoang mang và nghi kỵ. Quả thật chưa bao giờ các phương tiện truyền thông phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng như ngày nay, nhờ đó, con người được gia tăng hiểu biết và tình liên đới. Tuy nhiên, các phương tiện truyền thông chỉ thực sự mang lại lợi ích cho con người và cho cộng đồng xã hội khi phục vụ sự thật và phản ánh thực tại cách trung thực. Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lĩnh vực, kể cả trong môi trường cần đến sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường. Chắc chắn tất cả những ai tha thiết với tiền đồ của đất nước và của dân tộc, không thể không quan tâm đến tình trạng này”.

Bên cạnh những tác động tích cực, các phương tiện truyền thông xã hội đang là nguyên nhân làm cho nhiều người trẻ hiện nay “bị làm cho tê dại vì vô vàn khả năng cung ứng bởi mạng lưới toàn cầu và các kỹ thuật khác” trong khi họ dự phần vào những phương pháp truyền thông có cơ nguy là gia tăng cảm giác về sự cô đơn và mất định hướng” (theo Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI).

Ngoài thực trạng kể trên, Giáo Hội tại Việt Nam đang thiếu đi những phương tiện truyền thông chính yếu trong hoạt động loan báo Tin Mừng. Giới Công giáo chưa có một cơ quan ngôn luận chủ quản chính thức về báo viết. Mọi nguồn tin liên quan đến đời sống tôn giáo của đông đảo tín hữu chủ yếu dựa vào các trang mạng của các giáo phận, nhưng trên thực tế việc tiếp nhận theo phương cách này còn rất nhỏ lẻ, do đa số bà con giáo dân tại các giáo xứ còn nghèo, lại hạn chế về trình độ thu thập thông tin.

Tình trạng yếu kém về truyền thông xã hội của giới Công giáo Việt Nam ngoài lý do “pháp lý”, theo Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, “phải chăng còn có yếu tố nội bộ, do sự thiếu nhiệt thành, thiếu năng động, ít sáng tạo và tổ chức yếu kém? Chúng ta đang sống trong giai đoạn thông tin kỹ thuật số: thông tin không chỉ được phổ biến trên nguyệt san, tuần san hay nhật báo, mà còn trên mạng, với nhịp độ từng giờ, từng phút và từng giây”(Gm. Paul Nguyễn Thái Hợp, OP, Việt Nam dấu yêu Quê Hương và Giáo Hội, 2010, tr. 268).

  1. Mục vụ truyền thông: cần một hướng đi

Trước những bất cập đang đặt ra, mục vụ truyền thông Công giáo cần một hướng đi đúng đắn, cụ thể, hiệu quả theo những gợi mở mà Công đồng Vatican II đã đưa ra trong Sắc lệnh Inter Mirifica. Tuân theo những chỉ dẫn của luật luân lý là ưu tiên hàng đầu cho việc triển khai hoạt động truyền thông trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Người làm công tác truyền thông cần “cân nhắc nội dung những gì được truyền thông, tuỳ bản tính riêng của mỗi phương tiện; đồng thời họ cũng phải chú ý đến mọi trường hợp hay hoàn cảnh, tức là mục đích, khán thính giả, địa điểm, thời gian liên quan đến việc truyền thông này: chính những trường hợp hay hoàn cảnh đó có thể biến cải hoặc đổi mới hoàn toàn tính cách luân lý của sự truyền thông…” (IM, số 4).

Các phương tiện truyền thông xã hội chỉ thực sự có ý nghĩa thúc đẩy việc loan báo Tin Mừng khi nó nhắm mục tiêu là Sự Thật và Đức Ái Kitô giáo; như lời Đức Giêsu đã dạy: “Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng” (Mt 10,27). Trong quá trình thông tin, “đòi hỏi “sự bảo đảm” tính xác thực của đời sống từ những người làm việc trong ngành truyền thông, và nhất là các ký giả Công giáo; tính xác thực của đời sống vốn không kém hơn chút nào trong thời đại kỹ thuật số” (Thông cáo của Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội).

Tính hiệu quả khi rao giảng Tin Mừng qua các phương tiện truyền thông hệ tại ở việc “mang lại cho con người những chân lý giá trị mà nó nâng đỡ và nâng cao phẩm giá con người” (trích lời Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II).

Giới trẻ là đối tượng được ưu tiên đặc biệt trong giáo dục đào tạo tâm linh. Do vậy, khi hướng dẫn các em tiếp cận với giáo huấn Tin Mừng qua các phương tiện truyền thông, thì việc “giáo dục các em sử dụng các phương tiện truyền thông thích hợp là cần thiết về văn hóa đạo đức và tinh thần của các em. Cha mẹ, Giáo Hội và nhà trường có trách nhiệm giáo dục các em biết phân biệt các phương tiện truyền thông… Trẻ em phải được tiếp cận những gì thật đẹp đẽ và đạo đức…” (Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 41 của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI).

Một nhiệm vụ tối cần thiết đối với mục vụ truyền trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng, là phải làm sao kiến tạo bầu khí hiệp thông giữa mọi thành phần Dân Chúa. Vì đây chính là cốt lõi để những người xung quanh nhận ra gương mặt Đức Kitô cách sinh động, thân tín dựa trên những phương thức truyền thông đúng đắn theo chỉ dẫn luân lý đặt ra.

Để có thể hiện thực những định hướng chung này, chúng ta cần triển khai quy tụ đội ngũ những người làm công tác truyền thông có khả năng, giàu tâm huyết. Hướng mục vụ truyền thông này phải làm sao để “mọi con cái Giáo Hội phải đồng tâm hiệp lực, chẳng những không ngần ngại mà còn hết sức hăng say, sử dụng ngay những phương tiện truyền thông xã hội cách đắc lực vào các công việc tông đồ khác nhau tuỳ theo những đòi hỏi cụ thể của hoàn cảnh và thời gian…” (IM, số 13).

Để phục vụ việc loan báo Tin Mừng cách hiệu quả và có hệ thống, việc thiết lập “một ban truyền thông trong giáo xứ là khả thi, và cần thiết ngay lúc này. Điều đó cũng lệ thuộc hoàn toàn vào Cha sở. Cha sở có duyệt không? Thiết nghĩ, đã đến lúc, chỉ cần các cha “cho phép” là có thể có ngay những người tâm huyết thiết kế sớm nhất, tốt nhất những bảng thông tin cuối Nhà thờ theo mô hình “Hãy đến mà xem” đã bắt đầu xuất hiện ở một số giáo xứ trong Nam ngoài Bắc” (Cao Huy Hoàng, Truyền thông và Hiệp thông, Web dongcong.net).

Kết luận

Trong bài trả lời phỏng vấn của Web Giáo phận Vinh, Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp đã bày tỏ ước nguyện đối với Trang Web Giáo phận nhà: “Ước mong sao Trang tin (trang Web) của giáo phận có thêm cộng tác viên, nhất là các cây viết trẻ và trở thành một phương tiện hữu hiệu để loan báo Tin Mừng. Để thực hiện được điều đó, đã đến lúc cộng đồng Dân Chúa cần ý thức hơn nữa vai trò của truyền thông và tích cực hỗ trợ Trang tin của Giáo phận về tinh thần cũng như vật chất” (Gm. Paul Nguyễn Thái Hợp, OP, sđd, tr. 270). Thao thức của Đức cha Phaolô cũng là nỗi trăn trở, hy vọng của các chủ chăn trong Giáo Hội và người tín hữu nói chung về vai trò của các phương tiện truyền thông xã hội trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng hôm nay.

 J.B. Nguyễn Quốc Tuấn

Nguồn: https://giaophanvinhlong.net

Write comment (0 Comments)