Con xin kính chào Cha Trưởng Ban Giáo Lý Giáo Phận, Xin kính chào Quý Cha, Quý Thầy, Quý Nữ Tu đang đồng hành với các Giáo Lý Viên, Thân mến chào tất cả các Anh Chị Giáo Lý Viên,  Chỉ còn hơn một tháng nữa là chúng ta bước vào Năm Đức Tin. Là những người dưới tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta đã được kêu gọi trở thành Người Giáo Dục Đức Tin. Ý thức được vai trò quan trọng này, Ban Giáo Lý của Giáo Phận chúng ta, từ quý Cha đến quý Nữ Tu và tất cả các Giáo Lý Viên đã làm việc cật lực từ ngay sau khi Đức Thánh Cha công bố “Tự sắc Porta Fidei ”. Đặc biệt hôm nay, trong thời gian cận kề của Ngày Khai Mạc Năm Đức Tin, chúng ta lại được cùng nhau chuẩn bị kỹ hơn qua Ngày Giáo lý Chủ Đề : “Đức Tin Gọi Mời Hòa Nhập Và Nối Kết ”. 

Trong tinh thần của một Đức Tin luôn biết “Gọi Mời Hòa Nhập Và Nối Kết”, chúng ta cùng chia sẻ với nhau những Phương Pháp Truyền đạt Giáo Lý thế nào cho có hiệu quả, nói rõ hơn là việc dạy giáo lý như thế nào để có thể bắt chước được phương pháp sư phạm của Thiên Chúa Cha là Đấng luôn tìm cách liên lạc với con cái của Ngài qua những kinh nghiệm khác nhau trong đời sống họ.

Điều khó đối với việc dạy giáo lý là làm sao chúng ta tìm ra những phương thế truyền thông hoàn toàn kính trọng chân lý của đức tin và đồng thời cũng hoàn toàn tôn trọng những hoàn cảnh cụ thể của học viên. Có làm được như thế, thì việc dạy giáo lý mới giúp học viên biến đời sống họ thành một món quà tình yêu chân thành và tinh tuyền cho Thiên Chúa Cha và tha nhân.

 Xin kính mời tất cả chúng ta cùng chia sẻ với nhau Đề Tài:

 

“PHƯƠNG PHÁP KHAI TÂM TRONG VIỆC TRUYỀN ĐẠT GIÁO LÝ”

( dựa theo ” SÁCH CHỈ NAM VỀ DẠY GIÁO LÝ “).

 Đây là một Tài Liệu chính thống, được Thánh Bộ Giáo sĩ soạn thảo theo các Văn kiện của Giáo Hội . Mục đích của Sách Chỉ Nam này là đưa ra những nguyên tắc thần học và mục vụ được rút ra từ Huấn Quyền và từ Công Đồng Vaticanô II để làm nền tảng vững chắc cho việc giảng dạy về Đức Tin. (Số 9)

 Để việc học hỏi được có kết quả, trước tiên, chúng ta nên cùng nhìn lại BẢN CHẤT, MỤC ĐÍCH VÀ NHỮNG NHIỆM VỤ CỦA VIỆC DẠY GIÁO LÝ, để nhờ những chỉ dẫn cơ bản đó, chúng ta sẽ được khai thông và có một cái nhìn sáng sủa mà ý thức hơn nhiệm vụ rất cao trọng của mình trong việc truyền đạt giáo lý.

Write comment (0 Comments)

Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả,[Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền hay chỉ đơn giản còn gọi là Tết) là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam, theo ảnh hưởng văn hóa của Tết Âm lịch Trung Hoa và Vòng văn hóa Đông Á. Trước ngày Tết, thường có những ngày khác để sửa soạn như “Tết Táo Quân” (23 tháng chạp âm lịch) và “Tất Niên” (29 hoặc 30 tháng chạp âm lịch) Vì Tết tính theo Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của Mặt Trăng nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng). Hàng năm, Tết được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 1 theo âm lịch trên đất nước Việt Nam và ở một vài nước khác có cộng đồng người Việt sinh sống. Trong những ngày Tết, các gia đình sum họp bên nhau, cùng thăm hỏi người thân, mừng tuổi và thờ cúng tổ tiên… Theo phong tục tập quán, Tết thường có những điều kiêng kỵ.

Lịch sử hình thành

Từ nguyên

Chữ “Tết” do chữ “Tiết” mà thành. Hai chữ “Nguyên đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”. Nguồn gốc ra đời Họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN . Trị vì cả 2622 năm Từ thời đó, người Việt đã ăn tết, bắt đầu có bánh chưng, bánh dầy nhờ sáng kiến của Lang Liêu – con trai thứ 18 của vua Hùng Vương 6. Có thể nói, nước ta sớm hình thành một nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng của người Việt. Nền văn hoá với những đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước, cùng những sản vật từ lúa gạo. Gạo – thứ thực phẩm chính nuôi sống con người, trong đó gạo nếp là thứ ngon nhất, thơm, dẻo, nhiều chất. Chính vì lẽ đó, gạo nếp được chọn để làm thành các thứ bánh dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm. Thực ra, cho đến nay, nói một cách chính xác dân ta ăn Tết bắt đầu từ khi nào không ai nắm rõ. Lịch sử Trung Quốc viết, từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang – quan nước Tàu sang nước ta, truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng, trước khi người Trung Hoa sang đô hộ, dân tộc Việt đã có sinh hoạt văn hoá nền nếp và đặc sắc.

Ý nghĩa Tết Nguyên đán ở Việt Nam

Tết Nguyên đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, nó mang đậm nét văn hóa dân tộc sâu sắc và độc đáo, phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người và thiên nhiên theo chu kỳ vận hành của vũ trụ. Chữ Nguyên có nghĩa là bắt đầu, chữ Đán có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ, tri ân ông bà tổ tiên. Nét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, Tết là do xuất xứ từ “tiết” (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, điều đó có ý nghĩa rất đặc biệt đối với một nước thuần nông như nước ta. Theo tín ngưỡng dân gian, bắt đầu từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì” người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ các vị thần linh có liên quan đến nông nghiệp như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước… Người nông dân cũng không quên ơn các loài vật đã cùng họ sớm hôm vất vả như trâu, bò, gia súc, gia cầm và các loại cây lương thực, thực phẩm đã nuôi sống họ.



Tết Nguyên đán là dịp con cháu sum vầy, đoàn tụ bên gia đình thân yêu của mình

Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên đán, đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có phong tục hằng năm, mỗi khi năm hết, Tết đến dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả người xa xứ cách hàng ngàn ki-lô-mét vẫn mong được về sum họp dưới mái ấm gia đình trong ba ngày Tết, được khấn vái dưới bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà, ngôi mộ, nhìn lại nơi mà một thời bàn chân bé dại đã tung tăng và mong được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời. Mấy tiếng “Về quê ăn Tết” không chỉ là khái niệm đi về, mà đằng sau nó là cả một quá trình hành hương về với cội nguồn, về nơi chôn nhau cắt rốn. Không thế thì làm sao huỳnh Văn Nghệ có cảm hứng để lưu truyền cho hậu thế hai câu thơ bất hủ “Từ thuở mang gươm đi mở cõi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam, ngày Tết xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho xã hội; tình thầy trò, bè bạn cố tri, ông mai bà mối đã tác thành cho đôi lứa.. Tết cũng là dịp đúc kết mọi hoạt động liên quan đến một năm qua, chào đón một năm mới với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng.



Tết Nguyên đán là lễ hội truyền thống mang tính toàn dân. Vì vậy vào những ngày cuối năm, mọi hoạt động đều hướng vào Tết, chuẩn bị cho Tết. Các ngành, các cấp đều có kế hoạch cho ngày hội đặc biệt này. Từ thương nghiệp đến giao thông vận tải, văn hóa đến an ninh công cộng, nhất là các ngành dịch vụ thì cứ là “bận như Tết”. Các công sở, xí nghiệp, trường học cũng đều có kế hoạch tham gia Tết, đồng thời giải quyết những nhu cầu đặt ra trong nội bộ đơn vị.

Loan Nguyễn

Nguồn: https://newsky.edu.vn/lich-su-tet-nguyen-dan-co-truyen-viet-nam/

Write comment (0 Comments)
Mùa Vọng là thời gian thức tỉnh từ cơn mê ngủ dửng dưng với tha nhân
 
ĐTC mời gọi các tín hữu đừng theo con đường ích kỷ, gây ra xung đột chiến tranh, nhưng hãy tỉnh thức, một cách cụ thể, chú ý quan tâm đến những người xung quanh đang gặp khó khăn. 

Hồng Thủy - Vatican

Lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật 01/12/2019, Đức Thánh Cha đã chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô. Đức Thánh Cha bắt đầu bài huấn dụ ngắn trước khi đọc Kinh Truyền Tin:

Hành trình hướng về Chúa Kitô với sự tín thác

Anh chị em thân mến, chào anh chị em,

Hôm nay, Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng, bắt đầu một Năm phụng vụ mới. Trong bốn tuần mùa Vọng này, phụng vụ dẫn đưa chúng ta đến việc cử hành lễ Giáng sinh của Chúa Giêsu, trong khi nhắc nhớ chúng ta rằng Người đến mỗi ngày trong cuộc sống của chúng ta và sẽ trở lại trong vinh quang vào thời sau hết. Với sự tin tưởng chắc chắn, chúng ta hướng về tương lai với sự tín thác, với lời ngôn sứ Isaia đồng hành trong toàn bộ hành trình Mùa Vọng.

Chúa Kitô, ý nghĩa và cùng đích của lịch sử

Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, ngôn sứ Isaia tiên báo rằng "vào ngày sau hết, núi Nhà ĐỨC CHÚA đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới"(2,2). Đền thờ của Chúa ở Giêrusalem được trình bày như là điểm hội tụ và gặp gỡ của tất cả các dân tộc. Sau khi Con Thiên Chúa nhập thể, chính Chúa Giêsu đã mặc khải mình là đền thờ đích thực. Do đó, tầm nhìn tuyệt vời của ngôn sứ Isaia là một lời hứa thiêng liêng và khiến chúng ta sống tinh thần hành hương, hành trình hướng về Chúa Kitô, ý nghĩa và cùng đích của lịch sử. Có bao nhiêu người đói khát công lý, chỉ có thể tìm thấy nó bằng cách đi trên con đường của Chúa; trong khi tội ác và tội lỗi xuất phát từ việc các cá nhân và các nhóm xã hội thích đi theo những con đường được vạch ra bởi những lợi ích ích kỷ, gây ra xung đột và chiến tranh. Mùa Vọng là thời điểm thích hợp để chào đón Chúa Giêsu đến; Người đến như một sứ giả của hòa bình để chỉ cho chúng ta con đường của Thiên Chúa.

Tỉnh thức là  chú ý đến những người xung quanh cần được giúp đỡ

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy sẵn sàng khi Người đến: "Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến." (Mt 24,42). Tỉnh thức không có nghĩa là mở đôi mắt thể lý, nhưng là có trái tim tự do và hướng về đường ngay chính, nghĩa là sẵn sàng cho đi và phục vụ. Cơn mê ngủ mà chúng ta phải bừng tỉnh được tạo nên bởi sự thờ ơ, phù phiếm, không có khả năng thiết lập các mối quan hệ thực sự của con người để chịu trách nhiệm về người anh em cô đơn, bị bỏ rơi hoặc bị bệnh. Do đó, sự kỳ vọng của Chúa Giêsu Đấng đang đến phải được biến thành một sự dấn thân tỉnh thức. Trên hết là sự ngạc nhiên trước hành động của Thiên Chúa, ngạc nhiên những điều ngạc nhiên Người mang đến và dành cho Người sự ưu việt. Tỉnh thức cũng có nghĩa là, một cách cụ thể, chú ý đến những người xung quanh chúng ta đang gặp khó khăn, để bản thân bị thách thức bởi nhu cầu của họ, không chờ đợi anh ta hoặc chị ta yêu cầu chúng ta giúp đỡ, nhưng học cách dự đoán, đi bước trước như Chúa luôn làm với chúng ta.

Xin Đức Maria, Trinh Nữ tỉnh thức và Mẹ của hy vọng, hướng dẫn chúng ta trên hành trình này, giúp chúng ta hướng về "Núi của Chúa", hình ảnh của Chúa Giêsu Kitô, người lôi cuốn mọi người và mọi dân tộc đến với Người.

Nguồn: https://www.vaticannews.va

Write comment (0 Comments)

Mùa vọng là thời gian để chúng ta chuẩn bị tâm hồn đón mừng mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Trong thời gian này, Giáo Hội đã cho chúng ta chiêm ngưỡng những mẫu gương sống động của các nhân vật trong Kinh thánh như: Tiên tri Isaia, Gioan tẩy giả, cũng như qua cách sống và những tâm tình của các ngài trao gởi lại, thì đó cũng là những bài học rất quý giá để chúng ta sống tốt đẹp hơn trong thời gian mùa vọng.

Thật thiếu sót, nếu chúng ta không kể đến Mẹ Maria trong thời gian mong đợi Con Chúa giáng trần. Bởi vì Mẹ Maria cũng đã từng sống tâm tình mùa vọng như bao người khác. Thế nhưng, hơn ai hết, kinh nghiệm sống tâm tình mùa vọng nơi Mẹ Maria vẫn luôn là tiếng gọi thúc giục lòng ta hãy thành tâm chiêm ngưỡng cách sống mùa vọng nơi Mẹ. Nhờ vậy chúng ta sẽ có những tâm tình xứng hợp trong khi chúng ta hướng về ngày Chúa đến trong trần gian. 

1/ Mẹ Maria sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống thánh thiện: 

Vì ý thức Đấng Thiên Sai muôn dân mong đợi là Đấng thánh, nên thời gian sống tâm tình mong đợi con Thiên Chúa nơi Mẹ Maria, đã được dệt bằng những chuỗi ngày vô tận của sự thánh thiện. Mẹ sống thánh thiện, vì Mẹ xác tín những tâm hồn thánh thiện là những tâm hồn sẽ được đón nhận niềm vui ơn cứu độ cách tròn đầy. Mẹ sống thánh thiện, vì Mẹ xác tín những tâm hồn thánh thiện là những tâm hồn luôn làm đẹp lòng Chúa là Đấng Thánh. Và Ngài rất vui khi được hiện diện với những tâm hồn như thế. 

Về điểm này, chúng ta hãy suy nghĩ lại những hành động của Chúa Giêsu khi Ngài tiến về Giêrusalem để thực hiện cuộc thanh tẩy Đền thờ. Vì phía sau hành động thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta phải tự thanh tẩy đền thờ tâm hồn chính mình, nhờ vậy Thiên Chúa là Đấng thánh mới vui thích ngự trong những tâm hồn trong sạch như Ngài. 

Hơn ai hết, cách sống tâm tình mùa vọng của Mẹ Maria đã để lại dấu ấn không thể ngờ và không thể phai mờ. Không thể ngờ vì qua sự chuẩn bị tích cực để mong đợi Đấng Cứu Độ nơi Đức Maria, Thiên Chúa đã đoái nhìn đến cách sống thành tâm tuyệt vời ấy. Vì thế, một điều bất ngờ xảy ra nơi Mẹ là Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ, Người Nữ Thánh Thiện được làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Thiên Chúa đã chọn cung lòng thanh khiết của Mẹ để trao gởi Người Con Yêu Dấu của Ngài là Đấng Thánh, và qua trung gian Mẹ Maria Thiên Chúa đã trao ban Đấng Cứu Độ cho loài người. Đó là một điều bất ngờ đối với Mẹ Maria. Thế nhưng, qua sự bất ngờ này thì Mẹ Maria đã thể hiện một dấu ấn không thể phai mờ. Vì từ giây phút bất ngờ khi được Con Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng mình, cũng từ giây phút ấy, Mẹ Maria đã khiêm tốn chỉ cho chúng ta con đường để chúng ta gặp Chúa, để Chúa đến với chúng ta. Con đường Mẹ chỉ dạy chúng ta đó là hãy trở lại kinh nghiệm của chuỗi ngày vô tận sống thánh thiện nơi Mẹ. Vì chuỗi ngày thời gian sống thánh thiện của Mẹ, đã hình thành nên bài thánh ca muôn thuở để mời gọi mọi người hãy can đảm sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống thánh thiện như Mẹ Maria, Trinh Nữ Thánh Thiện 

2/ Mẹ Maria sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống khiêm nhường: 

Khiêm nhường là cách sống Mẹ rất ưa thích. Mẹ thích sống khiêm nhường, bởi vì nhờ những tâm tình ấy mà Mẹ thật sự trở nên một người con bé nhỏ của Thiên Chúa, luôn phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa, luôn sống theo những gì Chúa đã dạy. 

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Mẹ sẵn sàng thưa hai tiếng xin vâng ý Chúa trong ngày truyền tin, để từ giây phút ấy mẹ đã trở nên Thánh mẫu của Đấng Tối Cao. 

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Mẹ sẵn sàng thi hành lời Chúa dạy trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống: Lúc vui, lúc buồn, lúc bối rối, lúc lo sợ, lúc an bình…… Nhờ việc hạ mình sống theo Lời Chúa mà Mẹ Maria được gọi là người có phúc. Mẹ có phúc vì Mẹ là người luôn “lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” ( Lc11,28). 

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã khiêm nhường tự hạ mang lấy thân phận con người, và trong thân phận con người Ngài đã mang lấy thân phận nô lệ để phục vụ sự sống cho muôn người. 

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên qua đời sống gương mẫu tuyệt vời ấy, Mẹ muốn nhắc nhở chúng ta: Thiên Chúa là Đấng khiêm nhường, Ngài rất thích những ai sống khiêm nhường. Chỉ có những tâm hồn sống khiêm nhường như Chúa mới có thể gặp được Chúa và được Chúa đến viếng thăm cư ngụ trong tâm hồn người ấy. Vì Thiên Chúa bản chất là khiêm nhường, nên Ngài không bao giờ đến với những ai kiêu căng, cậy dựa chức quyền, cậy dựa vào sức mạnh của trần thế để bôi nhọ hình ảnh tốt đẹp của Thiên Chúa là Đấng hiền lành và khiêm nhường. Về điểm này chính Mẹ Maria đã nhắc nhở cũng như đã cảnh cáo những ai sống ngược lại với cách sống khiêm nhường của Chúa, khi Mẹ nói: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc1, 51-52). 

Hôm nay chúng ta bước vào tuần cuối cùng của Mùa Vọng. Thiết nghĩ, muốn thay đổi cách sống để cùng với Mẹ Maria sống những tâm tình Mùa Vọng còn lại cũng chưa phải là muộn. Vì đối với Chúa, những cố gắng quyết tâm chân thành sống phút giây hiện tại, cũng có thể biến chuyển đời sống chúng ta trong tương lai. 

Hơn nữa, sống tâm tình mùa vọng không chỉ dừng lại bởi thời gian được ấn định trong năm phụng vụ. Nhưng tâm tình hướng về Con Thiên Chúa đến trần gian, đến trong cõi lòng chúng ta phải được thực hiện trong từng phút giây của nhịp sống. 

Như vậy, khi khám phá hình ảnh sống mùa vọng nơi Đức Maria qua đời sống thánh thiện và khiêm tốn, thì đó cũng là lúc Mẹ chỉ cho chúng ta con đường hoàn hảo nhất, đẹp lòng Chúa nhất để Chúa đến với chúng ta. 

Nếu chúng ta thật lòng sống thánh thiện như Mẹ mà không bị giằng co bởi những thú vui giả tạo mau qua của thế gian, chắc chắn đó là con đường hoàn hảo nhất để Chúa là Đấng Thánh giáng sinh trong cõi lòng chúng ta. 

Nếu như chúng ta thật lòng sống khiêm nhường như Mẹ trong mọi hoàn cảnh, mà không lo sợ phải thiệt thòi bởi những thứ ham muốn của sức mạnh trần thế, chắc chắn đó là con đường đẹp lòng Chúa nhất để Chúa giáng sinh trong cõi lòng chúng ta. 

Lạy Mẹ Maria! Ước gì những tâm tình sống mùa vọng nơi Mẹ sẽ là hành trang luôn đồng hành trong cách sống đức tin chúng con. Nhờ đó chúng con cũng được đón nhận nguồn ơn cứu độ như Mẹ. Lạy Mẹ Maria, xin cho niềm vui giáng sinh sắp đến được khơi dậy bằng ước muốn sống thánh thiện và khiêm nhường trong từng phút giây hiện tại của đời sống chúng con.

LM Giuse Nguyễn Minh Chánh

Sưu Tầm

Write comment (0 Comments)

Hôm nay bắt đầu Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng, gồm 4 tuần lễ chuẩn bị mừng lễ Chúa. Tại sao Mùa Vọng chỉ gồm 4 tuần, đang khi Mùa Chay kéo dài đến 6 tuần, và Mùa Phục sinh 7 tuần?

Thực ra nói rằng Mùa Vọng gồm 4 tuần thì không đúng. Phải nói rằng Mùa Vọng gồm 4 Chúa nhật, và có thể kéo dài từ 3 tuần cho đến 4 tuần, tùy Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng bắt đầu sớm hay muộn. Cách đây 2 năm (năm 2000), Mùa vọng bắt đầu ngày 3/12, và Chúa nhật thứ 4 Mùa Vọng rơi vào ngày 24 tháng chạp (áp lễ Giáng sinh), cho nên năm ấy Mùa Vọng chỉ có 3 tuần. Dù sao, Mùa Vọng chưa phải là mùa phụng vụ ngắn nhất trong năm, bởi vì Mùa Giáng sinh còn ngắn hơn nữa, bắt đầu từ lễ Chúa Giáng sinh cho đến Chúa nhật liền sau lễ Hiển linh, với thời gian thay đổi tùy năm: năm 2002 kéo dài 20 ngày, nhưng năm trước đó (2001) thì chỉ có 14 ngày. 

Mùa Vọng gồm 4 Chúa nhật chứ không phải là bốn tuần. Nhưng mà tại sao chỉ có 4 Chúa nhật mà không phải là 5-6, hoặc là 2-3? 

Hiện nay Mùa Vọng chỉ gồm có 4 Chúa nhật. Nhưng mà trong quá khứ đã có lúc mùa Vọng kéo dài 6 Chúa nhật và cũng có lúc chỉ có 3 Chúa nhật. Tại sao như vậy? Để hiểu rõ điều này, chúng ta cần phải đi ngược lên dòng lịch sử, vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo. Trong những thế kỷ đầu tiên, lễ trọng đại nhất trong năm phụng vụ là lễ Chúa Phục sinh. Dần dần, chung quanh lễ này người ta thiết lập một thời kỳ chuẩn bị gọi là Mùa Bốn Mươi (quadragesima), nhắc nhớ 40 ngày tĩnh tâm cầu nguyện của Đức Giêsu trên sa mạc, cũng như của các đại ngôn sứ khác (Môsê, Elia) trước khi tiếp xúc với Thiên Chúa. Đặc biệt thời gian “Bốn mươi ngày” giúp cho các dự tòng chuẩn bị lãnh nhận các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh. Đó là nguồn gốc của Mùa Chay (trong nguyên ngữ là 40 ngày) kéo dài 6 tuần lễ. Lễ trọng Phục sinh kéo dài 50 ngày (nghĩa là lễ Ngũ tuần), tưởng niệm biến cố Chúa Thánh thần được ban cho Hội thánh như hoa trái của Chúa Phục sinh. Đó là nguồn gốc của Mùa Phục sinh, kéo dài 7 tuần lễ. Tóm lại, chu kỳ Phục sinh đã thành hình ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo rồi. 

Như vậy Mùa Vọng mới xuất hiện hay sao? 

Sánh với Mùa Chay và Mùa Phục sinh thì quả thực là Mùa Vọng còn mới mẻ. Trước hết nên nhắc lại rằng trong ba thế kỷ đầu, lịch phụng vụ chỉ mừng lễ Chúa Phục sinh. Lễ Chúa Giáng sinh xuất hiện chậm hơn, vào giữa thế kỷ IV. Và dần dần, hoạ theo lễ Phục sinh được chuẩn bị với một Mùa 40 ngày và kéo dài thêm 50 ngày, thì lễ Chúa Giáng sinh cũng có một thời gian chuẩn bị và một thời gian kéo dài. Khác một điều là thời gian chuẩn bị và kéo dài không đồng nhất trải qua không gian và thời gian. 

Điều đó có nghĩa là gì? 

Nói rằng “không đồng nhất trải qua không gian” có nghĩa là không phải hết mọi nơi đều có một thời kỳ chuẩn bị lễ Giáng sinh. Cụ thể là ngày nay, các Giáo hội Đông phương không biết đến mùa Vọng. Như thế là mùa Vọng thuộc về truyền thống La-tinh chứ không phải của toàn thể Giáo hội phổ quát (đây là một điều khác với chu kỳ Phục sinh). Còn nói rằng “không đồng nhất trải qua thời gian” có nghĩa là ngay cả bên Tây phương, cách thức điều hành Mùa Vọng không đồng nhất trải qua các thế kỷ. Năm 380, công đồng Saragoza (Tây-ban-nha) truyền cho các tín hữu phải tham dự Thánh lễ từ ngày 17 tháng 12 cho đến lễ Hiển linh. Có người coi đây là tiền lệ của Mùa Vọng, kéo dài 3 tuần lễ. Thực ra, vài sử gia cho rằng mục tiêu của thời gian 3 tuần lễ này là chuẩn bị lãnh bí tích thánh tẩy vào lễ Hiển linh mà thôi. Phải chờ đến thế kỷ sau (thế kỷ V), mới thấy vài nơi bên Pháp và bên Bắc Ý bắt đầu du nhập thời kỳ 6 tuần lễ chuẩn bị lễ Giáng sinh, nghĩa là dài như Mùa Chay. Mùa Vọng mang tính cách thống hối, với ba ngày giữ chay trong tuần (thứ hai, thứ tư, thứ sáu). Thậm chí có nơi bắt đầu mùa Vọng từ lễ thánh Martinô (10 tháng 11), từ đó có tên “Mùa Chay thánh Martinô” (quadragesima S. Martini). Đến khi mùa Vọng được du nhập vào Rôma thì Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả rút số Chúa nhật mùa Vọng xuống còn 4. Tuy vậy ngày nay tại giáo phận Milanô bên Italia, theo nghi điển thánh Ambrôxiô, mùa Vọng vẫn còn kéo dài 6 tuần. 

Bốn Chúa nhật Mùa Vọng có ý nghĩa gì? 

Trước khi trả lời câu hỏi này thì cần phải tìm hiểu ý nghĩa của mùa Vọng đã. Trong tiếng Việt, “vọng” có nghĩa là “mong chờ, ngóng nhìn”. Chờ cái gì? Thường thì người ta hiểu là chờ lễ Chúa ra đời; nhưng hiểu như vậy thì không đúng lắm. Nếu chỉ nhấn mạnh tới sự chờ đợi mừng lễ thì mùa Chay cũng đáng gọi là Mùa Vọng, xét vì nó là sự chờ đợi lễ Chúa Phục sinh. Thực ra tên gọi trong tiếng La-tinh, adventus không phải là “vọng”, nhưng là “đến”: đây là mùa Chúa đến. Tuy nhiên, có hai tư tưởng về việc Chúa đến: 1/ Chúa đến trần gian với việc Nhập thể, một biến cố xảy ra cách đây 2000 năm; 2/ Chúa sẽ đến vào thời cánh chung. 

Mùa Vọng chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng sinh, cho nên chú trọng biến cố Chúa Nhập thể nhiều hơn, phải không? 

Đúng như vậy. Vì thế trước đây, có tác giả giải thích rằng 4 Chúa nhật mùa Vọng tượng trưng cho 4000 năm nhân loại trông mong Chúa ra đời. Ngày nay, không ai nhắc tới tư tưởng đó nữa bởi vì thiếu cơ sở lịch sử. Dù sao, các thánh thi và bài đọc trong Mùa Vọng đều nói đến hai lần Chúa đến, quen gọi là biến cố Nhập thể và biến cố Quang Lâm. Chủ đề quang lâm được nhấn mạnh hơn trong Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng. Còn các Chúa nhật khác thì dành cho biến cố Nhập thể. Cuộc cải tổ phụng vụ sau công đồng Vaticanô II đã muốn làm nêu bật điều này qua các bài đọc Sách Thánh trong các Chúa nhật mùa Vọng. Chúa nhật thứ nhất đề cao thái độ tỉnh thức đón chờ Chúa Quang lâm. Các Chúa nhật còn lại thì trưng bày những mẫu gương của những người đón chờ Chúa Cứu thế. Chúa nhật thứ hai và thứ ba giới thiệu thánh Gioan Tẩy giả, người dọn đường cho Chúa đến không những chỉ bằng lời giảng sám hối mà còn bằng chính cuộc đời khổ hạnh và trung trực của mình. Chúa nhật thứ bốn được dành cho Đức Maria. Phúc âm Chúa nhật các Năm B (tựa như năm nay) thuật lại cảnh Truyền tin, và năm C thuật lại cảnh Thăm viếng. Phúc âm các năm A thì kể lại việc thiên sứ hiện đến với thánh Giuse để giải thích nguồn gốc việc Đức Maria thụ thai đức Giêsu, Đấng Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta).

 Tuy nhiên cũng nên thêm rằng vài bài đọc trong Giờ Kinh Sách nói đến ba lần Chúa đến, chứ không phải chỉ có hai (chẳng hạn như thánh Carôlô Borrômêô, thứ hai tuần I, và thánh Bênađô, thứ tư tuần I). Ngoài lần Chúa đến tại Bêlem và lần Chúa đến thời cánh chung, còn lần Chúa đến viếng thăm linh hồn bằng ơn thánh. Chúng ta hãy tỉnh thức mở cửa khi Người gõ, kẻo rằng Người sẽ đi qua mà không trở lại nữa.

 Trong 4 Chúa nhật mùa Vọng, linh mục mặc lễ phục màu tím; nhưng mà Chúa nhật thứ ba thì được phép mặc áo lễ màu hồng. Tại sao vậy? 

Tôi thấy tại nhiều nơi, sắc phục màu tím hầu như biến ra màu hồng rồi. Như chị biết, màu tím mà pha với màu trắng thì ra màu hồng, cũng như màu đen mà pha trắng thì ra màu xám. Dù sao đây là vết tích của thời cổ xưa, khi mùa Vọng được quan niệm như thời kỳ thống hối đền tội tương tự như Mùa Chay. Chúa nhật thứ tư Mùa Chay được đặt tên là “Laetare” (hãy vui lên), bởi vì đã qua được một nửa đường hy sinh khổ chế rồi. Một cách tương tự như vậy, Chúa nhật thứ ba Mùa Vọng đánh dấu một nửa chặng đường chuẩn bị cho nên cũng mang tên tương tự “Gaudete”: mừng vui lên). Phụng vụ ngày nay không còn lấy Chúa nhật thứ ba Mùa Vọng làm mốc phân chia hai giai đoạn của Mùa Vọng, nhưng là trước và sau ngày 17 tháng 12. Kể từ ngày 17/12 trở đi, nghĩa là một tuần lễ trước ngày áp lễ Giáng sinh, các bản bài đọc trong Thánh lễ và trong Giờ kinh Phụng vụ đều được chọn lựa với mục tiêu là chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng sinh gần kề. Trong thánh lễ, như đã nói trên, các bài phúc âm được trích từ những chương đầu của Matthêu và Luca (quen gọi là Tin mừng thời niên thiếu). Trong Phụng vụ giờ kinh, các thánh vịnh có điệp ca riêng, đặc biệt là Điệp ca trước kinh Magnificat trong tiếng La-tinh bắt đầu bằng chữ O, gồm những lời khẩn cầu hướng về Chúa Cứu thế, xin Người mau đến. Có người coi phụng vụ tuần trước lễ Giáng sinh như là sự thâu nhập phong tục đạo đức bình dân tổ chức tuần Cửu nhật chuẩn bị mừng Chúa ra đời. Có người thì lại ví tuần lễ này như là tháng Đức Mẹ thu gọn, xét vì Đức Maria được nhắc đến rất nhiều trong phụng vụ, được giới thiệu như mẫu gương dọn mình đón Chúa Cứu thế trong thinh lặng cầu nguyện cũng như trong cử chỉ thăm viếng bác ái. Tưởng cũng nên biết là bài Phúc âm trong tuần lễ chót của mùa Vọng (nghĩa là từ ngày 17 tháng 12) được trích từ những đoạn đầu tiên của Matthêu và Luca (quen gọi là Phúc âm thời niên thiếu), và biến cố thiên sứ truyền tin cho đức trinh nữ Maria vào ngày 20. Từ thế kỷ VII, nhiều nơi cử hành lễ Truyền tin thứ hai trong năm vào Mùa Vọng, thêm vào lễ trọng vào ngày 25 tháng 3.

Nguồn: http://tinmung.net/

Write comment (0 Comments)