Chương 1: Bệnh kiêu ngạo (4/6)

Cúi xuống nhìn quả tim của mình

Trích sách Bảy căn bệnh thiêng liêng, Sept maladies spirituelles, Sơ Catherine Aubin.

Xin hướng lòng chúng ta về với Người, để chúng ta bước đi trên mọi nẻo đường của Người (1 V 8, 58).

Các bản văn Thánh Kinh hướng sự chú ý của chúng ta đến các dân tộc “cứng đầu cứng cổ”. Hàng chục câu trích dẫn nói đến sự cứng lòng của trái tim bằng cách đưa nó đến gần cổ, gần gáy. Vì thế Đức Chúa nói với ông Môsê: “Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ” (Xh 32, 9). Trong sách ông Ba-rúc, sự ám chỉ rất rõ ràng, dân tộc không nghe lời là dân tộc có cái cổ cứng đơ:

“Nếu các ngươi không nghe Ta, thì giữa chư dân, nơi Ta sẽ phân tán chúng, đám dân vĩ đại và đông đảo này chắc chắn sẽ trở thành nhỏ bé. Ta vẫn biết rằng chúng sẽ chẳng nghe Ta đâu, vì đó là một dân cứng cổ. Nhưng trên đất lưu đày, chúng sẽ hồi tâm, và sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng. Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đôi tai biết lắng nghe.32 Trên đất lưu đày, chúng sẽ ca ngợi Ta, và sẽ tưởng nhớ danh Ta. Chúng không còn cứng cổ nữa, cũng sẽ chẳng có những hành động xấu xa, vì chúng sẽ nhớ lại cách ăn nết ở của cha ông chúng, những kẻ đã phạm tội trước nhan Đức Chúa” (Br 2, 29-33).

Tương tự như vậy, Etienne, trong phán xét của mình trước Hội đồng Công tọa đã tuyên bố: “Hỡi những người cứng đầu cứng cổ, lòng và tai không cắt bì, các ông luôn luôn chống lại Thánh Thần!” (Cv l, 51)

Cứng cổ hay cứng gáy liên hệ đến sự không vâng lời, từ chối lắng nghe và không làm theo lời của người khác. Nó tượng trưng cho tình trạng nội tâm cứng như thép, ngược với dịu dàng. Một cái cổ cúi xuống là biểu hiện một quả tim biết lắng nghe, ngược với cái cổ cứng, không chịu vâng lời và lắng nghe. Giáo huấn Kinh Thánh dạy chúng ta một trong các cám dỗ lớn nhất của con người là nghĩ mình có thể làm mà không cần đến Thiên Chúa, không lắng nghe Ngài, không tiếp nhận Ngài là Đấng chỉ dẫn con đường thật của Sự Sống. Cái gì là cứng cổ nếu không phải là giữ thái độ cứng nhắc làm cản trở tầm nhìn, xem cái đồ “che mắt” là thật để không thấy các sự thật khoa học, triết lý, tôn giáo, bị “hạn chế” trong các giới hạn của chúng ta? Tìm lại được sự linh hoạt của cái cổ, là tìm lại được khả năng nhìn cao hơn, nhìn sâu hơn những gì làm cho chúng ta sống, chúng ta thở, mang lại cho con người, cho sự vật tầm quan trọng sự hiện diện của họ, bỏ đi các phóng chiếu để tiếp nhận một cái nhìn khác, cá biệt, độc dáo và duy nhất. Đó là nhìn trong tất cả các chiều kích này để cuối cùng ánh sáng có thể lọt vào.

Từ hài hước đến khiêm tốn 

Phúc cho ai biết cười chính mình, họ không bao giờ hết cười. 

Khiêm tốn đưa chúng ta về mảnh đất nội tâm của mình, về “mùn” của mình, có nghĩa là về các giới hạn của chúng ta. Chúng ta không thể biết tất cả, chúng ta không thể làm tất cả, chúng ta không thể có tất cả mọi sự; trong đức khiêm tốn có một ý thức lớn về thực tế, và về những gì thực tế cho chúng ta. Trong ý thức này là một sự không bám dính mọi sự, và nhất là không bám dính vào chính mình. Và chính ở đây là tính hài hước bước chân vào với khả năng tự trào. Người khiêm tốn là người vui vẻ khi mình được tinh tuyền. Cùng đích của sự vui vẻ này là có một khoảng cách đối với chính mình: không tuyệt vọng, không mỉa mai nhưng có lòng nhân từ, nhân hậu và sự thật về tính cách của mình, đôi khi rất nặng nề và phức tạp. Cách đối xử của người khiêm nhường là cách đối xử không bám dính vào mình trong tất cả mọi sự, không bám vào gì, không xem cái gì là đã có được, vì thế luôn đón chờ Sức thổi của Thần Khí. Điều này được phản ánh trong sự không tin tưởng vào phán xét riêng của mình và áp đặt ý kiến của mình, không nói ngược và ngay cả tranh luận, từ bỏ tranh chấp và chống đối, và thường dẫn đến một thái độ im lặng và lắng nghe. Lòng khiêm tốn đưa chúng ta vào chiều kích nội tâm của một thinh lặng trọn vẹn và hiệp thông sâu đậm với Chúa.

Khiêm tốn: một ơn của Chúa

Anh em hãy hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11, 29).

Lòng khiêm tốn không ngừng cầu xin Chúa; Chúa Giêsu đã nói theo cách của Ngài trong Tin Mừng: “Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5). Cầu nguyện là đi vào con đường khiêm tốn, là biểu hiện sự bất lực, sự lệ thuộc của chúng ta để tự mình nhận ra công việc của Chúa. Xin ơn khiêm nhường là nhận mình không thể hoàn tựu việc gì, cũng như giữ được gì mà không có sự trợ giúp của Chúa. Một cách nào đó, cầu nguyện làm cho mình khiêm tốn, và khiêm tốn làm cho mình cầu nguyện, cám ơn không ngừng trong ý thức tất cả những gì nhận được đều không do mình. Trong chúc thư của mình, Thánh Đa Minh đã viết: “Hãy có lòng bác ái, hãy giữ đức khiêm nhường, hãy có đức khó nghèo tự nguyện.”

Trở nên hoa anh túc?

Hoa hồng nở vì nó là không có tại sao. (Angélus Silésius)

Để trở nên như cành hoa anh túc khiêm tốn, quan trọng là nhận biết qua lời giảng dạy của các Giáo phụ một vài phương pháp giúp chúng ta vào đức khiêm nhường. Chẳng hạn đừng chú ý đến lỗi của người khác, đừng phán xét, cố gắng có từ tâm, có lòng nhân hậu trong mọi hoàn cảnh; cố gắng giữ đúng chỗ của mình khi chúng ta ý thức phẩm chất và khả năng của mình. Chúng ta hãy nhìn hoa anh túc: nó hướng tất cả nặng lực của nó về mặt trời và dạy chúng ta cũng vậy, chúng ta hướng http://phanxico.vn/2020/02/23/cui-xuong-nhin-qua-tim-cua-minh/về sâu thẳm con người của mình để đến với ánh sáng. Để giữ định hướng này, chúng ta phải đứng thẳng; nó dạy chúng ta giữ cột sống thẳng, thẳng để cảnh giác, thẳng để hướng về ánh sáng nhưng không kiêu ngạo. Hoa anh túc không những dạy chúng ta thẳng thắn mà còn dạy chúng ta mềm dẻo theo ngọn gió với đức khiêm nhường cao cả. Thật vậy, sự dạy dỗ của cây anh túc cũng nằm trong sự mong manh của nó. Hoa nở, hoa tàn như lời thánh vịnh: “Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình. Nhưng ân tình Chúa thiên thu vạn đại, dành cho kẻ nào hết dạ kính tôn” (Tv 102, 15-17).

Marta An Nguyễn dịch (Còn tiếp)

Nguồn: 

Write comment (0 Comments)

Chương 1: Bệnh kiêu ngạo (3/6)

Nhận ra sự thật con người mình và nguồn gốc của mình

 Trích sách Bảy căn bệnh thiêng liêng, Sept maladies spirituelles, Sơ Catherine Aubin.

Lạy Chúa, xin dạy cho con biết: đời sống con chung cuộc thế nào,ngày tháng con đếm được mấy mươi, để hiểu rằng kiếp phù du là thế (Tv 38, 5).

Người kiêu ngạo không biết mình, họ nghĩ họ là họ, nhưng không phải. Khiêm tốn là có một cái nhìn thật về mình, dù (và với) các khả năng, các ơn và các phẩm chất được công nhận của mình. Đó là nhận biết các ơn thể lý hay thiêng liêng là những ơn mà chúng ta chỉ là người được ký gởi, người quản lý hay người mắc nợ. Qua đó, Chúa Kitô giải thích cho chúng ta, chúng ta chỉ làm bổn phận của mình, chúng ta chỉ là “người tôi tớ” bình thường hay vô dụng (Lc17, 10). Vấn đề không phải xem đây là đánh giá thấp hay không thấp các giá trị của chúng ta, nhưng là học để đặt mình vào đúng chỗ của mình dưới cái nhìn của Đấng đã cứu và đã soi sáng chúng ta. Đó chỉ là phần chúng ta với tất cả giá trị và ơn đã được ban cho chúng ta. Ở trong sự thật khiêm nhường này sẽ dạy, để chúng ta không đi vào con đường phù phiếm, danh vọng hảo, nịnh hót, ảo tưởng, nghĩ mình ở trên cao hay dưới thấp. Người khiêm tốn biết mình có khả năng tốt cũng như xấu. Đó là lý do vì sao chung chung đức khiêm tốn giúp con người nhận biết các giới hạn, các yếu kém, sự bất lực và thiếu hiểu biết của mình. Đây là một trong các định nghĩa cơ bản của các giáo phụ: “Một người biết được điểm yếu của mình là họ đã chạm đến sự toàn hảo của đức khiêm nhường.”

Khiêm tốn: Chúa ở trong chúng ta

Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu.

Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế (Pl 2, 5-7).

Thiên Chúa của chúng ta ban ơn khiêm tốn cho người bị sỉ nhục, vì điều vĩ đại nhất nơi con người là hình ảnh của Chúa chứ không phải tội, là sự sống chứ không phải cái chết. Chúng ta không trở nên khiêm tốn bằng một quyết định đơn giản thay đổi cuộc sống, cũng không phải bằng một cuộc sống khổ hạnh. Không phải chỉ ăn chay, bán của cải, canh thức, cầu nguyện nguyên đêm; khiêm tốn không phải là một cách cư xử. Chiều kích của khiêm tốn mang tính nhân học: chúng ta được tạo nên theo hình ảnh của Chúa. Chúa Kitô không dạy chúng ta khiêm tốn như một đạo đức, Chúa Kitô là nguyên lý, là nguyên mẫu của đức tính này. Đó là lý do vì sao đức tính khiêm tốn được xem là nền tảng, là căn bản, là hòn đá tảng của mọi đời sống thiêng liêng. Theo các Giáo phụ, đức khiêm tốn là đức tính chủ yếu giúp chúng ta quay về với Chúa. Vì kiêu ngạo là nguyên nhân của sa ngã nên khiêm tốn đóng vai trò hàng đầu trong việc quay về với Chúa. Theo Thánh Ambroise, Chúa Kitô là nguyên lý, là nguyên mẫu của đức tính này. Theo Thánh Âugutinô, con người sa ngã vì kiêu ngạo chỉ có thể quay về với Chúa bằng đức khiêm tốn. Khi Thánh Âugutinô nói về đời sống kitô, ngài so sánh đời sống này như một tòa nhà hùng vỹ mà đỉnh chạm trời và móng là đức khiêm tốn. Theo Thánh Âugutinô, Chúa Kitô là người chủ của tính khiêm nhường. Ngài cho thấy, ngài truyền đạt vì khiêm tốn là gốc rễ của mọi chuyện tốt. Tất cả những gì chúng ta có thể học ở Ngài đều đến từ tính khiêm nhường có trong Ngài. Không có gì mật thiết với Chúa Kitô cho bằng tính khiêm nhường: chỉ một mình tính khiêm nhường là có thể kết hợp Ngôi Lời và xác phàm. Sau Thánh Âugutinô, Thánh Bernard viết rằng, Chúa Kitô chỉ dạy lòng khiêm nhường vì chính Ngài là khiêm nhường của Thiên Chúa đang làm việc. 

Khiêm tốn là tình yêu, là tha thứ, là phục vụ

Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại;

hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau (Ep 4, 2).

Nếu Thiên Chúa là Tình yêu, thì đó là vì Ngài là khiêm nhường. Thiên Chúa đã nói với chúng ta “Ta yêu con”, một tình yêu không điều kiện, Ngài cho chúng ta thấy đức khiêm tốn dẫn đến tình yêu nhưng không. Đức tính khiêm tốn là nền tảng để yêu Chúa và yêu người anh em. Nó mở trái tim ra để đến đỉnh cao là tha thứ cho kẻ thù, những người chúng ta không chọn. Là các sỉ nhục mà chúng ta không có trách nhiệm: các thương tổn thể lý, tâm lý và thiêng liêng. Tính khiêm tốn là mảnh đất trên đó phát triển tình yêu cho Chúa và cho người anh em: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người (Mc 9, 35). Tính khiêm tốn nối kết chúng ta với người khác, đánh thức trong chúng ta mối “lo âu” đến các đau khổ, các thiếu sót của họ và vui với niềm vui của họ, và do đó thay đổi các mối quan hệ giữa con người với nhau. Người khiêm nhường không biện minh, không sỉ nhục anh em mình bằng lời nói, bằng tư tưởng hay bằng hành động. Họ không khinh thường, họ không ghen ghét. Chúng ta biện minh cho mình bằng cách lên án người khác, đó là triền dốc đi xuống triền miên của chúng ta, trong đời sống riêng cũng như trong đời sống công. Cao thượng đích thực là đảm nhận trách nhiệm của mình; biết trách nhiệm “trong tất cả và cho tất cả.” Lòng khiêm tốn “nhường chỗ” và tạo trong con người mình một khoảng không gian, một khoảng cách mà chúng ta gọi đó là “trần trụi”, một sự “trần trụi nội tâm” hay một sự “nghèo khó thiêng liêng”. Đó là mảnh đất nội tâm nuôi dưỡng, nó sẽ nuôi dưỡng trong lòng chúng ta những gì tốt đẹp mà chúng ta được gọi phải làm và phải là con người như vậy; nó sẽ nuôi dưỡng tất cả các đức hạnh.

Lòng khiêm tốn của cái nhìn

Hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình (Pl 2, 3).

Khi Thánh Phaolô viết câu này, thêm một lần nữa, ngài muốn nói đến cái nhìn. Đây là tự nhìn bản thân mình với lòng khiêm nhường và sự thật để nhìn người khác với tất cả những gì mình không có, không ganh tị, không thèm muốn. Đây là nhìn người khác mà không phóng chiếu, không muốn gì hết, không cố nắm bắt. Nhìn người khác với lòng khiêm tốn là không làm để họ phù với mình, họ như thế nào mình nhìn như thế ấy, với những gì không thấy được trong cái ‘hữu hình’ đó là một cách khác nhìn chính cái đà trong con mắt mình (Lc 6, 41), cái đà này chận năng lực thần thánh, làm cho trái tim trở thành trái tim bằng đá không có khả năng yêu thương. Quý trọng người khác, nhìn họ như là người tốt nhất, khi đó chúng ta vào được trong lòng thương xót Chúa, trong cái nhìn của Chúa.

Marta An Nguyễn dịch

(Còn tiếp)

Write comment (0 Comments)

Chương 1: Bệnh kiêu ngạo (2/6)

 Khiêm tốn để đứng thẳng 

Trích sách Bảy căn bệnh thiêng liêng, Sept maladies spirituelles, Sơ Catherine Aubin. 

Hỡi con người, hãy đứng cho vững, Ta sắp nói với ngươi đây (Ed 2, 1).

Một cách nào đó, khiêm tốn là bước vào cuộc chiến cự lại nọc độc biếng nhác hay buồn bã. Đó cũng là nhận biết chính mình và nhận ra chính mình trong tính “tham ăn, hà tiện, dâm dục” của mình, cự lại với sự giúp đỡ của Chúa. Khiêm tốn là biết một cách sâu sắc mình sẽ bị oằn xuống vì một trong các bệnh này, nhưng được nâng dậy nhờ một cử chỉ, một cú chạm của Chúa Kitô và ánh sáng của Ngài. khiêm tốn không có nghĩa là ở trên hay ở dưới tất cả, ngược với lời giảng dạy của các Giáo phụ, nhưng là tìm vị trí trung dung, vượt lên các cám dỗ để tiếp tục vui vẻ tiến bước về đàng trước.

Khiêm tốn là hành vi đơn giản của nhà tiên tri xin vua Naaman người Syria, xuống tắm dưới dòng sông Jordania bảy lần để được lành (2 R 5, 10-16). Nhà vua thất vọng vì nghĩ mình sẽ bị đòi hỏi một cái gì khó khăn hơn, ông không tin chỉ cần xuống nhúng nước dưới dòng nước này là lành; dù vậy ông cũng nghe lời và được chữa lành. Cũng thế, đức khiêm tốn đòi hỏi chúng ta đơn sơ trong tương quan với chính mình và với người khác. Thường thường chúng ta thích nịnh hót, thích cái gì sáng chói, thích cái gì gây ảo tưởng. Đó là các mục đồng ở Bêlem, những người đầu tiên tin vào Chúa Cứu Thế sinh ra đời (Lc 2, 15-17). Các mục đồng đến đó, nhận biết Chúa, ra về lòng hân hoan. Đôi khi khiêm tốn đòi hỏi chúng ta làm những điều đơn sơ, cởi mở và không hậu ý. Khiêm tốn mềm dẻo, thích ứng với thực tế không chờ đợi, không đòi hỏi, không giả định. Chúng ta cần được khiêm tốn hay cần những người khiêm tốn thu hút (Jean Vanier), vì các tấm gương này sẽ làm cho chúng ta mong muốn được khiêm tốn.

Có một ý thức tốt và đúng về chính mình sẽ giúp chúng ta chịu được sỉ nhục và giúp chúng ta nghe được các lời sỉ nhục mà không làm chúng ta quá đau buồn, tính khiêm tốn làm cho tâm hồn chúng ta mềm mại, dễ tiếp nhận, kể cả các lời chỉ trích. Ai tìm kiếm sự khiêm tốn dịu dàng này sẽ nghe, sẽ thấy và phân định điều gì đó khác với những gì được nói hay được trình bày. Họ thấy ở đó một hình thức dạy học để học cách nhận biết. Một bác sĩ danh tiếng nói, chính kẻ thù dạy cho chúng ta nhiều hơn là bạn bè, vì ông nói “trước kẻ thù, chúng ta phải liên tục cảnh giác với chính mình, với các khuynh hướng của mình”. Sự sỉ nhục làm cho quả tim bị đau và làm cho nó để ý đến các lý luận bên trong bản ngã của nó.

Phải thừa nhận mình bị bệnh trước mặt Chúa, chứ không phải trước bản ngã của mình

Anh em hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa và Người sẽ cất nhắc anh em lên (Gc 4, 10).

Một sự hiểu biết lành mạnh về mình chưa hẳn là khiêm tốn nhưng nó làm cho chúng ta biết các điểm yếu của mình. Chúng ta phải chấp nhận chúng ta là những con người cần được biến đổi và Chúa Kitô chữa lành chúng ta. Sự bất lực tự nhiên của chúng ta không được làm chúng ta bị tổn thương, bị thất vọng, bị tha hóa, nhưng đó là ơn để chúng ta đi ra khỏi lỗ rún của mình, để mở lòng ra với anh em và với Chúa. Nhận ra mình bị bệnh, thấy rõ, đó là khiêm tốn trước mặt Chúa, chứ không phải trước bản ngã của mình. Thần Khí ban cho chúng ta tính khiêm nhường, Ngài mở một kẻ hở để chúng ta thấy rõ tình trạng tâm hồn mình, để phân định, để định danh. Lòng khiêm tốn, qua ơn của Chúa Thánh Thần đến từ bước này qua bước khác để thấy rõ cái gì làm chúng ta ngăn cách Chúa. Chính trong sỉ nhục, các dự án không thành công, các nghịch lý, các phản bội mà Chúa Thánh Thần mở một kẻ hở.

Trước hết chúng ta phải để ý đến những gì đang xảy ra trước khi dần dần tháo gỡ các nút thắt của suy nghĩ, của cảm xúc, định danh các cám dỗ, các xung năng, các vi phạm dẫn đến mình bị nuốt chửng trong kiêu ngạo, rồi sau đó theo dõi các xáo trộn, các tai họa xảy ra nơi mình và chung quanh mình. Chính Chúa Thánh Thần soi sáng lương tâm, và chính trước mặt Chúa, chúng ta mới nhận ra sự đau khổ và bất hạnh của mình, là do mình bị giam hãm trong việc tự cho mình là mạnh. Đức khiêm tốn là nhận biết, không có sự giúp đỡ của Chúa thì chúng ta không thể làm gì tốt được, rằng tất cả những gì tốt chúng ta làm đều đến từ Chúa, mọi tiến bộ chúng ta có được cũng nhờ Chúa, không có gì có thể quy cho giá trị hay công trạng riêng của mình, và chúng ta cũng không giữ được gì nếu không có sự giúp đỡ của ngài.

Khiêm tốn, một yếu tố chữa lành tâm linh

Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường (1Pr 5, 5)

Trong chừng mực mà kiêu ngạo xuất hiện như nguyên do đầu tiên của sa ngã, thì đức khiêm tốn có thể xem như nguyên do đầu tiên của cứu rỗi. Không có khiêm tốn thì không thể vượt qua cái xấu. Qua đức khiêm tốn, hơn bất cứ phương tiện nào khác, con người mới có thể chữa lành các bệnh của mình. Khiêm tốn là một trong các phương thuốc chính mà Chúa Kitô cho con người để chữa lành các bệnh thiêng liêng. Đó là lý do vì sao đức khiêm tốn được xem như đức hạnh chính để cứu con người. Chữa lành mọi bệnh cho con người và bao gồm các đức tính khác, đức khiêm tốn làm cho con người trở thành con người đích thực lại. Các hiệu quả của đức khiêm tốn thì rất quan trọng, vì đối với con người, đức khiêm tốn là một trong nguồn cội chính để nhận ơn Chúa, cũng như kiêu ngạo là một trong nguồn cội chính để không có ơn Chúa. Qua đức khiêm tốn, con người thấm nhuần hành động của bàn tay Thiên Chúa, con người không còn chỉ biết có mình, nhưng mở lòng ra với Chúa. Khi con người tưởng mình làm chủ mình thì con người làm biến dạng mình. Ngược lại, khi con người nhận biết mình là sinh vật được tạo ra từ đất thì nó không làm gì phi thường, nhưng nó nói sự thật và sự thật này trở thành liều thuốc giải độc cho căn bệnh kiêu ngạo. Đôi khi cần cả một chuỗi thất bại để nhận ra sự bất lực khi mình muốn làm chủ đời sống và để trở nên hạt giống đang chờ mùa xuân của Chúa Thánh Thần.

Marta An Nguyễn dịch(Còn tiếp)

Nguồn: http://phanxico.vn/2020/02/21/khiem-ton-de-dung-thang/

Write comment (0 Comments)

Keo kiệt và ý nghĩa cuộc sống

Trích sách Bảy căn bệnh thiêng liêng, Sơ Catherine Aubin. Nhà xuất bản: Salvator – Novalis, 2019

Như người kẻ trộm, xin Chúa thương xót cho ác tâm của con và xin nhớ đến con!

Cuộc sống không tùy thuộc vào của cải (Lc 12, 15).

Hai lời chứng

Kẻ trộm!

“Buộc phải” không bám dính

Ba lần, chị tôi bị mất nữ trang và tất cả những gì quý báu, ban đêm kẻ trộm vào lấy, cả chị và cả gia đình không ai biết. Lần thứ ba chị tôi tuyên bố theo kiểu không còn bám dính: “Bây giờ kẻ trộm có thể trở lại, tôi chẳng còn gì quý giá để chúng lấy.” Chị xem giai đoạn bực mình này là một kinh nghiệm thiêng liêng. Một mặt chị không nghĩ đến nó nữa, không còn muốn giữ cái gì khác; một mặt, chị nói, trong mồ chị cũng không mang tất cả nữ trang này đi theo. Tôi thường nghe chị nói, chuyện này làm chị cảm thấy nhẹ nhõm, thư thái, thậm chí còn giải thoát cho chị.

Cho chị, chị của tôi, hôm nay và mãi mãi

Một cảm hứng “tốt”

Sự kiện này có một tiếng vang sau đó. Một trong các chị tôi, chị Elisabeth, chị là sinh viên, chị vừa về nhà cuối tuần với gia đình, chị nói với tôi, chị thích chiếc áo măng-tô mà bố mẹ vừa mua cho tôi. Tôi 16 tuổi, chị 22. Trước khi chị ra đi, chiều chúa nhật tôi cho chị chiếc áo măng-tô. Thật ra khi đó tự đáy lòng tôi, tôi cảm nhận: “Và nếu chị tôi sắp chết mà tôi không cho chị chiếc áo này…” Hai ngày sau, một cách đột ngột, chị Elisabeth của tôi chết trong một trận hỏa hoạn. Tôi không bao giờ quên chuyện này. Tại sao tôi có linh tính cho chị chiếc áo nếu nhỡ chị sẽ chết, trong khi chẳng có gì báo trước sẽ có tai nạn này? Và nếu tôi không nghe theo linh tính này? Và nếu tôi giữ chiếc măng-tô mới toanh lại? Việc này cũng không ngăn chị tôi không chết, cũng không làm cho tôi bớt đau khổ, nhưng nó mở ra một cánh cửa khác.

Đó là một hành động nền tảng trong đời tôi: nếu tôi không cho chị chiếc áo măng-tô, thì bây giờ ba mươi năm sau, chắc chắn tôi sẽ còn hối tiếc. Cử chỉ này đã làm cho tôi vững mạnh và làm cho tôi được phong phú. Nó dạy cho tôi phải nghe tiếng nói bên trong của Thần Khí dù không hợp lý, nhưng tiếng nói có âm vang và rung cảm. Tôi nhận được sức mạnh để cho không những ở trần gian này, nhưng có thể là ở cả thế giới bên kia. Có phải vì thế, giàu là có thể cho không gò bó không? Chúng ta hãy tự hỏi: chúng ta nghèo vì những gì chúng ta tích lũy không? Hay chúng ta không giàu vì những gì chúng ta cho không có động lực thầm kín nào không?

  1. Keo kiệt và mối quan hệ của chúng ta với mọi thứ, với tiền bạc và với cuộc sống

Ai cũng như ai khi sinh ra và lúc lìa đời. (Kn 7, 6).

Quý vị có quen biết ai keo kiệt không? Keo kiệt “thứ thật?” Người giữ tất cả, không cho ai muợn, cũng không cho ai cái gì cả? Người tính toán chi tiêu từng xu? Người vui vì đi quá giang xe tiết kiệm được một vé xe buýt không? Vì sao chúng ta không nói đùa về tính keo kiệt như nói đùa về tính tham ăn? Đâu là lý do? Bao nhiêu câu hỏi thì bấy nhiêu câu trả lời khác nhau: đúng là nó làm cho chúng ta quan tâm và tự hỏi mối quan hệ của mình với mọi thứ như thế nào.

Dù chúng ta là ai, đôi khi chúng ta cũng keo kiệt, thỉnh thoảng hoặc thường thường. Đối tượng của keo kiệt thì đa dạng: lúc thì thì giờ, lúc thì tiền bạc, hoặc bất cứ gì dù lớn hay nhỏ mà chúng ta gắn bó đến mức không có gì trên quả đất này làm chúng ta để nó ra đi.

Có của cải hay tài sản không phải là chuyện đáng lên án: bởi vì nó giúp chúng ta xây dựng, sáng tạo, giúp đỡ người khác, đoàn kết với người khác, sống xứng đáng trong xã hội. Cái xấu nằm ở cách ít nhiều suy đồi và sai lệch mà chúng ta dùng các của cải vật chất này. Nói cách khác: chúng ta là chủ hay người quản lý của cải này? Tài sản vật chất có là chủ chúng ta không? Chúng ta có là nô lệ, thậm chí là tù nhân của những gì chúng ta chiếm hữu không? Chúng ta có đủ tự do để chia sẻ nó không?

Những câu hỏi này cho thấy sự lệch lạc khủng khiếp của vấn đề này; thật vậy, tính keo kiệt có thể dẫn đến tình trạng dửng dưng và chai cứng tâm hồn. Với căn bệnh này, người keo kiệt không còn giao tiếp, họ lấy, họ tích lũy, họ bất động trong cuộc sống, vì sợ thay đổi, sợ chết là chuyện không tránh được, vì tính keo kiệt làm lệch đi các vấn đề đích thực của đời sống. Đối với họ, mối quan hệ với thức ăn cũng trở thành rắc rối, tính keo kiệt là một lệch lạc phức tạp vì mối quan hệ của chúng ta với mọi chuyện trở nên mơ hồ hoặc hàng hai và phải đi tìm trong các tầng tầng lớp lớp sâu đậm trong chính con người mình may ra mới hiểu được.

Write comment (0 Comments)

Nỗi buồn và lưỡng diện tính của nó

Trích sách Bảy căn bệnh thiêng liêng, Sơ Catherine Aubin. Nhà xuất bản: Salvator – Novalis, 2019

Xin mở cho con vào, kẻo con lạc lối, con xa cách và tiêu vong!

Nỗi buồn và lưỡng diện tính của nó

Khóc vì mừng… và ăn năn

1. Nỗi buồn theo ý Chúa: một nỗi buồn bổ ích và giải thoát

U buồn là một cảm xúc mà ai ai cũng biết và thường không nhiều thì ít đã từng trải nghiệm; nỗi buồn có thể sâu lắng hoặc thoáng qua, nó có thể khiến chúng ta nấc nghẹn vì khổ não hoặc khóc oà trong vui sướng. Nỗi buồn này – mà các Giáo phụ gọi là “căn bệnh” – có hai mặt. Chẳng hạn nó thiết thực trong thời gian tang tóc, nhưng lại trở thành chướng-ngại-sống nếu nó dẫn chúng ta đến tình trạng trầm cảm. Tiếng khóc và nước mắt là những đặc trưng của buồn khổ được biểu lộ ra bên ngoài, qua thân xác một cách thấy rõ, những gì phấn khích tâm hồn và nội tâm: niềm vui được Chúa viếng thăm hay đau khổ do trống vắng và thiếu hụt.

Trong chương này, chúng ta sẽ dừng lại ở ý nghĩa của nước mắt như là dấu chỉ của những nỗi buồn muôn mặt trong cuộc sống con người, nhưng đồng thời chúng cũng mang lại phương thuốc hữu hiệu và một hình thức nào đó để nhận biết chính mình, nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta sẽ đi một con đường khác để điều trị căn bệnh buồn bằng cách học hỏi tầm quan trọng của những giọt nước mắt các nhân vật trong Kinh Thánh, những người đã khóc thật nhiều mà không bị căn bệnh tâm linh này tác hại. Bởi “căn-bệnh-buồn” không chỉ đưa tới chỗ rơi lệ hay không; mà còn là sâu mọt gặm nhấm tâm can và là bóng tối nội tâm làm tiêu tan sinh lực, như cách diễn tả của các Giáo phụ. Để bắt đầu con đường đẫm nước mắt này, chúng ta sẽ theo bước các nhân vật trong Kinh Thánh và các thánh. Phản ứng của các ngài hữu ích cho chúng ta hơn là một bài diễn văn đầy nước mắt và tràn đầy u buồn.

Nỗi buồn của ông A-đam

Thiên Chúa của tôi, tôi tìm kiếm Ngài trong nước mắt.

Với câu hỏi của Đức Chúa: “A-đam, ngươi đang ở đâu?” (St 3, 9) sách Sáng Thế không chỉ nói về sự xấu hổ của ông A-đam và bà E-và đang “lẩn trốn Đức Chúa giữa những cây cối trong vườn” (St 3, 8) cũng không luận bàn về những giọt nước mắt của họ. Trong chủ nhật thứ nhất Mùa Chay, phụng vụ Byzantine cử hành nghi thức “địa đàng bị mất” khởi đầu bằng tưởng niệm con người bị đuổi khỏi vườn địa đàng. Lời ca nhập lễ vọng lên:

Thuở xưa A-đam ngồi ôm mặt khóc trước cửa địa đàng, ông kêu lên: “Lạy Thiên Chúa nhân từ, xin thương xót con, kẻ tội lỗi khốn cùng.” Adam than van rên xiết thật to, và tiếng nức nở của ông vọng tràn sa mạc mênh mông, bởi tâm hồn ông bị dằn xé khi nghĩ rằng: Tôi đã xúc phạm đến Thiên Chúa mà tôi yêu kính.

Ông không quá tiếc nuối địa đàng cùng vẽ mỹ miều của nó cho bằng hối hận vì đã đánh mất tình yêu của Thiên Chúa, Đấng không ngưng nghỉ lôi cuốn mọi tâm hồn về với Người.

Được giáo dục trong truyền thống phụng vụ Byzantine, Thánh Silouane thành Athos, một tu sĩ người Nga, gợi lại âm hưởng của lời ca này trong đoản khúc:

A-đam khóc, bởi do tội lỗi của ông mà tất cả đã mất an bình và yêu thương. Nỗi đau buồn của ông bao la như biển cả, và chỉ tâm hồn của những ai nhận biết Thiên Chúa và thấu hiểu lòng Chúa yêu thương chúng ta dường nào mới thấm thía được nỗi buồn này. Cả tôi nữa, tôi cũng khóc với A-đam: “Chúa ơi, con khao khát Chúa và con tìm kiếm Người trong nước mắt. Làm sao con có thể chẳng kiếm tìm Người? Người đã cho con biết Người bởi Chúa Thánh Thần, và sự nhận biết thiêng liêng này thôi thúc hồn con nức nở tìm Người.”

Nước mắt của A-đam chính là nước mắt của chúng ta một khi chúng ta đánh mất sự Dịu Dàng, niềm An Ủi và Bàn tay của Đấng dìu dắt và nâng đỡ chúng ta.

Giọt lệ ăn năn: Những giọt nước mắt của Thánh Đa Minh

Lòng thương xót của Ta! Những kẻ có tội sẽ trở nên như thế nào!

Write comment (0 Comments)