“Biến cố Giêsu” đã để lại một ấn tượng lớn trong Giáo Hội thời kỳ đầu. Qua lời rao giảng và các việc làm của các Tông Đồ, người ta bắt đầu tin vào Đức Giêsu như là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ trần gian. Giáo Hội nhanh chóng lan rộng. Niềm tin, niềm hy vọng và tình yêu dành cho Đức Giêsu cũng dần dần thấm vào đời sống của các tín hữu.

“Biến cố Giêsu” đã để lại một ấn tượng lớn trong Giáo Hội thời kỳ đầu. Qua lời rao giảng và các việc làm của các Tông Đồ, người ta bắt đầu tin vào Đức Giêsu như là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ trần gian. Giáo Hội nhanh chóng lan rộng. Niềm tin, niềm hy vọng và tình yêu dành cho Đức Giêsu cũng dần dần thấm vào đời sống của các tín hữu. Bởi thế, khi đối diện với cuộc bách hại kinh khủng, nhiều người vẫn sẵn sàng chịu chết, lấy máu mình làm của lễ dâng lên Chúa, chứ nhất quyết không chối bỏ niềm tin vào Đức Giêsu. Thậm chí, người ta còn vui mừng khi chịu chết vì danh Chúa. Họ xem đó là một vinh dự vì được kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Có thể nói, đối với họ, cuộc đời này chẳng còn mong chờ gì hơn, ngoài việc quy hướng tất cả về Chúa, chờ đợi Người sẽ đến và kiện toàn Nước Trời như lời Người đã nói.

Khi cuộc bách hại qua đi với chiếu chỉ của Constantine vào năm 313, các Kitô hữu được tự do sống niềm tin của mình. Đây là một dấu hiệu tốt, nhưng cũng để lại một cuộc khủng hoảng trong lòng những ai muốn hiến dâng tất cả, kể cả mạng sống mình, cho Chúa. Không còn những bắt bớ cũng đồng nghĩa với việc không còn cơ hội để kết hiệp với Đức Kitô chịu khổ nạn. Các tín hữu bắt đầu tìm những cách khác để thể hiện khao khát muốn hiến thân. Trong một vài tài liệu cổ, người ta nhận thấy vào những thế kỷ đầu, đã có những nghi thức thánh hiến trinh nữ. Đó là những người phụ nữ không muốn lập gia đình như bao phụ nữ khác theo phong tục tập quán lúc bấy giờ. Họ muốn dành chọn cuộc đời như một của lễ dâng lên Chúa.

Lúc này, có một xu hướng “chê ghét” thế gian. Nhiều người xem “thế gian”, tức xã hội mà trong đó người ta sinh sống, là chốn ồn ào, xô bồ, nơi giao tranh của những điều phàm tục, xấu xa. Bởi thế, họ cho rằng thế gian là nơi dành cho những con người có đời sống thiêng liêng thấp, nơi hoạt động của ma quỷ, lôi kéo người ta đến những điều nhơ nhuốc. Để gặp được Thiên Chúa, người ta cho rằng phải tìm đến những nơi thanh tịnh. Từ đó, có một xu hướng đi vào rừng sâu, sa mạc, tìm đến những nơi thanh vắng với hy vọng có thể tìm gặp được Chúa trong sự bỏ mình, phạt xác. Mỗi người tự tìm cho mình một góc riêng. Ăn uống đạm bạc, không ăn mặc cầu kỳ. Dành phần lớn thời gian trong ngày để cầu nguyện, giữ tâm hồn thinh lặng tuyệt đối. Ta được biết đến câu chuyện của thánh Anton Tu Rừng, người đã có những cuộc chiến với ma quỷ khi chúng muốn cám dỗ ngài bỏ cuộc.

Cứ thế, làn sóng kéo vào sa mạc để tu trì ngày càng gia tăng. Sa mạc vốn là ơn yên tĩnh, nay lại trở nên nơi ồn ào vì có quá nhiều người kéo đến để tu. Các tu sĩ lại khăn gói lên đường, tìm một nơi khác để sinh sống và tu. Bên cạnh đó, do nhu cầu về sinh tồn và an toàn, một số người đã liên đới với nhau, giúp đỡ nhau, đặc biệt là những trinh nữ. Họ sống với nhau trong một khoảng không gian, phân chia nhau những phận vụ. Khi người này cầu nguyện thì người kia đi kiếm thức ăn, hoặc ngược lại. Khi có thời gian rảnh rỗi, họ có thể chia sẻ với nhau những tâm tình hay những điều đã nhận được từ giờ cầu nguyện để nâng đỡ nhau. Chính Pacom, vào khoảng thế kỷ thứ 4 ở Ai Cập, sau bảy năm thụ huấn với Palemon, đã nhận thấy việc sống một mình không giúp ông tăng trưởng nhân đức. Vì thế, ông đã tách ra và khởi xướng một hình thức sống chung. Dần dần, hình thức này trở nên phổ biến. Đời sống ẩn tu (mỗi người một góc) dần dần được thay thế bởi hình thức cộng tu (nhiều người sống với nhau).

Hình thức cộng tu cũng theo thời gian có sự biến đổi, đặc biệt khi số lượng người muốn cộng tu gia tăng. Ngoài ra, do có nhiều tu sĩ có tiếng tăm về đạo hạnh và sự khôn ngoan, nhiều giáo dân cũng tìm đến với họ để xin theo, hoặc chỉ để tìm kiếm những lời khuyên trong cuộc sống, hoặc nhờ vị này cầu nguyện với Chúa giúp mình. Số lượng người hành hương cũng rất đông. Và để khỏi phải mất công đi xa, họ quyết định chọn một nơi nào đó gần nơi cư trú của vị tu sĩ để dễ gặp gỡ, trao đổi. Thế là, có một quần thể đông đúc người dân sinh sống, vây quanh khu vực của các tu sĩ. Các tu sĩ không thể cứ chuyển chỗ, nhưng cũng không thể để đời sống của mình bị ảnh hưởng bởi những người dân. Họ quyết định xây nhà, với tường rào và những cánh cổng kín đáo. Họ chọn một người cao niên, có đức độ làm người đứng đầu. Họ bắt đầu viết lề luật trong nhà: giờ đọc kinh, giờ cầu nguyện, giờ mở cửa gặp gỡ… Trong khuôn viên kín đáo ấy, các tu sĩ tự cày cấy, chăn nuôi để chu cấp nguồn thức ăn cho mình. Khi được mùa, họ chia sẻ những phần còn dư cho những người chung quanh. Đây chính là hình thức đầu tiên của kiểu sống đan viện, còn kéo dài cho đến tận ngày nay. Chính thánh Biển Đức là tổ phụ của đời sống đan tu này.

Thời gian trôi qua, các kiểu đan viện như thế này xuất hiện càng nhiều. Các tu sĩ vẫn giữ thói quen thinh lặng, cầu nguyện và lao động, gặp gỡ Chúa trong những bổn phận thường ngày và trong lối sống đơn sơ, thanh thoát, không cạnh tranh với đời. Viện Phụ được xem như người cha trong đan viện, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho từng tu sĩ. Tất cả đều phải tuân theo lề luật vì lề luật giúp bảo vệ tu sĩ khỏi những sa ngã. Người ta cho rằng đan viện chính là Thiên Đường, nơi Thiên Chúa ngự trị, còn cuộc sống bên ngoài chẳng khác gì hoả ngục, vì đó là nơi hoành hành của các nết xấu. Ai muốn dâng hình cho Chúa, không cần phải tử đạo như trước, nhưng có thể từ bỏ mọi sự, sống hãm mình và hy sinh trong đan viện. Đó cũng là một kiểu tử đạo, một kiểu biến mình làm của lễ dâng lên Chúa.

Tuy nhiên, dần dần, lối sống ngày phát sinh một vấn đề liên quan đến căn tính đời tu: đi tu chỉ để lo cho đời sống của mình thôi sao, có nhất thiết phải trốn đời mới đi tu? Hay nói cách khác, đâu là tương quan giữa đời sống thiêng liêng và đời sống tông đồ; làm sao để có thể vừa gặp Chúa, vừa gặp người ta? Những bức tường kín cổng của đan viện dường như ngăn cản các đan sĩ gặp gỡ người dân để nâng đỡ họ. Bên trong đan viện thì trù phú, nhưng bên ngoài đan viện là những con người đói khát, không có chút thức ăn. Nhưng nếu các đan sĩ cứ ra ngoài để làm việc tông đồ thì làm sao có thể chu toàn những bổn phận về các giờ kinh, giờ cầu nguyện nghiêm ngặt?

Khoảng thế kỷ thứ 12,13, Giáo Hội rơi vào thời gian đêm tối, cái mà người ta vẫn gọi là “đêm trường Trung Cổ”. Hàng Giáo sĩ ăn chơi, sa đoạ, sống truỵ lạc, chẳng màng gì đến đời sống đức tin. Linh mục không chăm lo cho đời sống thiêng liêng của giáo dân. Nhiều người trong số đó cũng thất học, chẳng hiểu gì về đức tin. Giáo dân thì noi gương các giáo sĩ. Chỉ giữ đạo theo kiểu mê tín, chứ hoàn toàn không có chút kiến thức nào về những điều mình tin. Đời sống đan viện dường như không thể cáng đáng nỗi sự sa đoạ trong Giáo Hội lúc bấy giờ.

Nhưng Chúa đã an bài mọi sự. Ngay giữa đêm tối ấy, xuất hiện trong Giáo Hội hai vị đại thánh là thánh Phanxico Assisi (1181-1226) và thánh Đa Minh (1170-1221). Hai vị này đã lập nên hai dòng mang tên mình, với hai linh đạo khác nhau. Thánh Phanxico Assisi đã dùng sự khó nghèo làm trụ đỡ cho đời sống thiêng liêng. Còn thánh Đa Minh thì dùng phương pháp giảng thuyết để giúp củng cố đức tin cho các tín hữu. Cả hai đều có chung lý tưởng xây dựng Giáo Hội. Hàng ngày đi xin ăn, tiếp xúc với người khác, sống đời sống đạm bạc, theo mẫu gương Đức Giêsu khó nghèo. Gương lành và đời sống đạo đức cùng những việc bác ái tốt đẹp do hai vị thánh này cũng như các tu sĩ trong hội dòng mang tên họ đã lôi kéo được nhiều người về với Chúa. Khác với đời sống đan viện, các dòng khất thực không khuôn mình trong những bức tường, nhưng đã đi ra ngoài, tiếp xúc với người khác để làm việc tông đồ.

Nơi thánh Inhaxio Loyola (1491-1556), Thánh Thần đã thổi một luồng gió mới vào Giáo Hội. Linh đạo của Inhaxio, xuất phát từ kinh nghiệm của chính bản thân ngài, đã là nguồn khởi hứng cho rất nhiều cá nhân, tu hội khác từ lúc ra đời cho đến nay. Với Inhaxio, hai yếu tố “chiêm niệm” và “hoạt động” không còn là hai trục tách rời nhau, nhưng hoà quyện với nhau thành một: chiêm niệm trong hoạt động. Chiêm niệm là nguồn mạch của mọi hoạt động, và trong chính hoạt động, người ta đang chiêm niệm. Nói rõ hơn, theo ngôn từ của Inhaxio, người ta phải cố gắng “tìm thấy Chúa trong mọi sự”. Con người phải luôn nhìn đến Chúa như là cùng đích của đời mình và sử dụng mọi cái Chúa ban như phương tiện giúp mình đến với Chúa. Nói cách khác, con người phải luôn có gắng kết hiệp với Chúa qua việc thực thi ý của Ngài. Trong mọi việc mình làm, dù ở đâu, dù thế nào, vẫn luôn hướng trọn tâm trí về Chúa, để tất cả đời sống của mình trở thành một lời cầu nguyện dâng lên Chúa.

Sau thánh Inhaxio Loyola, chắc chắn sẽ còn có nhiều linh đạo khác nữa ra đời, giúp các tín hữu nên thánh trong cuộc sống của mình. Ôn lại lịch sử các linh đạo, ta như được gợi nhắc về bản chất nguyên thuỷ của đời tu. Đó là một cuộc đời tử đạo, một chọn lựa để mình ngày càng chết đi với Chúa và được cùng Người sống lại trong một sự sống mới. Thật ra, trước khi Đức Giêsu ra đời, đã có những dấu tích của một cuộc sống ẩn tu, xa lánh thế gian, sống độc thân trong sa mạc (ví dụ như cộng đoàn Essenes ở Qumran, gần Biển Chết ở Palestin). Nhưng chỉ khi biến cố nhập thể xảy ra, khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người, đời tu mới thật sự mang lấy một ý nghĩa phong phú. Đức Giêsu trở thành khởi nguồn, nền tảng và điểm tựa của đời tu. Vì thế, chẳng nghi ngờ gì, ta có thể khẳng định rằng từ Đức Giêsu, ta tìm thấy nguồn gốc và ý nghĩa thật sự của đời tu, của một sự dâng hiến trọn vẹn.

 

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Nguồn: https://giaophanvinhlong.net

 

Write comment (0 Comments)

Ngày nay, nhân loại đang sống trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão. Thế giới ấy đòi hỏi mỗi người phải trang bị cho mình kiến thức cơ bản trên hầu hết các lãnh vực của đời sống xã hội. Ngoài việc trang bị cho mình những tri thức vững chắc về Giáo lý, Tu đức và Đời sống tâm linh, người tu cần thiết phải trau dồi cho mình những trải nghiệm phong phú về cuộc sống và về con người, hầu có thể dấn thân một cách đắc lực hơn cho sứ vụ loan báo Tin Mừng.

Trau dồi tri thức là công việc hệ trọng trong tiến trình đào tạo người Tu sĩ. Ngày nào người tu bằng lòng với vốn hiểu biết của mình, ngày đó họ đang bước đến bên bờ vực thẳm. Tri thức trên nhiều lãnh vực sẽ giúp bản thân người tu sĩ trở nên giàu có và phong phú hơn. Hơn nữa, chỉ khi được đào luyện trong một môi trường xã hội cụ thể với các kỹ năng chuyên môn cần thiết, người tu mới có thể tự tin bước vào sứ vụ, mà không bị choáng ngợp trước muôn vàn sắc màu của cuộc sống. Sự hiểu biết đầy đủ sẽ giúp người tu có khả năng đứng vững trước những đổi thay của thời cuộc và của lòng người. Dẫu biết rằng, việc đào tạo tri thức cho người Tu sĩ chỉ là một nhu cầu, một phương tiện giúp họ thi hành tốt hơn sứ vụ tông đồ, nhưng trong thời đại ngày nay, một thế giới đề cao vị trí và vai trò của chất xám, thì người tu nhất thiết không để mình bị mù tri thức.

Cách riêng, việc trang bị tri thức về đạo giúp người Tu sĩ tin và sống theo lời Chúa dạy. Vì lẽ, ta không thể tin theo điều mà chúng ta chưa hề nghe hoặc chưa bao giờ tận mắt chứng kiến. Bên cạnh tính chắc chắn và thiết thực với cuộc sống, tri thức giúp người tu “miễn nhiễm” trước những quyến rũ đầy màu sắc của cuộc sống. Chỉ khi việc đào tạo đáp ứng được đòi hỏi này, cánh đồng truyền giáo mới có thể mọc lên những bông hoa đầy hương sắc giữa những pha tạp của đời thường, để tô điểm thêm bức tranh muôn màu của cuộc sống. Thêm vào đó, việc đào luyện giúp các Tu sĩ có khả năng hoà nhập để cảm thấu con người trong xã hội, nhưng không bị hoà tan trong những vụn vặt của thời đại. Mặt khác, chỉ khi biết Chúa, yêu mến Chúa và có kinh nghiệm về Ngài, chúng ta mới có thể giới thiệu, giải thích, hướng dẫn người khác hiểu và sống Lời Chúa một cách chắc chắn và đúng đắn. Biết ở đây không phải là biết một cách lơ mơ, đại khái, nhưng là biết chính xác, chi tiết và sâu sắc. Có như vậy, người tu mới tạo được niềm tin và giúp người khác xác tín vào những gì người tu rao giảng.

Người Tu sĩ chỉ hiểu biết về đạo không thôi chưa đủ, nhưng thêm vào đó, họ cần thủ đắc cho mình tri thức trong các lãnh vực khác một cách có chọn lọc. Tri thức xã hội giúp cho lời nói, bài giảng và những chia sẻ của người tu thêm sinh động, phong phú, sâu sắc, gần gũi và dễ hiểu hơn. Đặc biệt, khi người tu nắm bắt được nhịp sống và sự phát triển của xã hội, họ có khả năng hướng dẫn con người nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa trong dòng chảy lịch sử nhân loại. Hơn nữa, đứng trước một thế giới không ngừng biến chuyển và quá đỗi phức tạp như hiện nay, bên cạnh một đức tin kiên vững, thì các kiến thức về khoa học, xã hội sẽ giúp người tu vững vàng hơn trên bước đường dấn thân phục vụ.

Nội dung tri thức của người tu trước hết phải gắn liền với Thiên Chúa và sau là nối kết với cuộc sống, bởi vì con người được mời gọi sống chung, sống cùng và sống với người khác. Do đó, không ai trong chúng ta được phép tách mình ra khỏi cộng đồng nhân loại, để rồi phải cô đơn trong ốc đảo của mình. Thành ra, dù nam hay nữ, dù còn trẻ trung hay đã cao niên, người tu cũng đều sống trong một giai đoạn lịch sử cụ thể với những bối cảnh và điều kiện nhất định. Hơn nữa, Tu sĩ có đời sống tâm linh sâu sắc phải là người có mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa và với các thực tại trần thế, sẵn sàng đón nhận tính cách nhân loại của mình. Cũng trong chiều kích đó, người Tu sĩ toàn diện, bên cạnh những giây phút chiêm niệm để kín múc nguồn dưỡng khí từ trời cao, họ cũng chính là những người biết cảm thấu những cảnh đời đau thương trong xã hội, dang rộng đôi tay và trái tim hầu xoa dịu nỗi đau trong tâm hồn con người. Thành ra, tri thức không phải chỉ tiếp nhận trên trường lớp, nhưng là bài học trải rộng, trải dài trong cuộc sống và trong mối tương quan giữa người với người.

Tri thức quan trọng, nhưng suy cho cùng, nó cũng chỉ là phương tiện để đạt được mục đích tối hậu là nhận biết Chúa Kitô. Quả vậy, bốn chiều kích căn bản của đời tu là nhân bản, đời sống thiêng liêng, tri thức và mục vụ, thì tri thức chỉ được xếp ở vị trí thứ ba mà thôi. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số Tu sĩ lại quá coi trọng tri thức mà quên đi căn tính đời tu và nhân cách của mình. Không thiếu những Tu sĩ vì được sở hữu một vốn tri thức sâu rộng, đã quay lưng lại với Giáo hội, khi nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa, suy nghĩ lệch lạc, khủng hoảng lòng tin, thậm chí dẫn đến bội giáo, ly giáo. Cũng không thiếu những Tu sĩ vì quá đề cao kiến thức, dẫn đến thái độ cạnh tranh, ghen tương, đố kỵ về thành tích học tập, theo tinh thần thế tục không xứng bậc tu trì. Thái độ và lối suy nghĩ ấy vô cùng nguy hiểm, không nằm trong ý định của Thiên Chúa, và cần phải loại trừ.

Thành ra, tri thức chỉ đúng đắn và có giá trị khi chúng được xây dựng trên nền tảng vững chắc là chính Đức Kitô, dưới sự hướng dẫn của vị thầy tối cao là Chúa Thánh Thần. Mục đích học tập của Tu sĩ không phải là để đạt đến sự sung mãn cho bản thân nhưng là để hiểu biết, tin tưởng, yêu mến và phục vụ Đức Kitô nơi tha nhân. Vì những lý do đó, người tu nhất định phải đam mê truy tìm sự khôn ngoan của Thiên Chúa, để làm giàu tâm hồn và đời thánh hiến của mình, và nhất định không được phép để mình bị mù tri thức.

TT

Nguồn: https://giaophanvinhlong.net

Write comment (0 Comments)

Dẫn nhập: Ngày nay, xã hội có sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Chắc hẳn, sự phát triển đó có ảnh hưởng tới đời sống đức tin của người Ki-tô hữu nói chung và đời sống người tu sĩ nói riêng. Việc đào tạo người tu sĩ trẻ được nhấn mạnh, để làm sao người tu sĩ vững vàng bước vào thế giới. Như Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II bàn về việc đào tạo Linh mục trong tông huấn Pastores Dabo Vobis, các hội dòng cũng thực hiện việc đào tạo tu sĩ thông thường dựa trên các chiều kích khác nhau về nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ.

Như vậy, huấn luyện nhân bản là một chiều kích không thể thiếu trong tiến trình đào tạo người tu sĩ. Tại sao người tu sĩ cần trưởng thành nhân bản? Người tu sĩ cần huấn luyện như thế nào để trưởng thành nhân bản? Sau đây là đôi điều xin được bàn luận.

Tại sao người tu sĩ cần trưởng thành nhân bản?

Dưới cái nhìn của dân chúng, người tu sĩ là người trưởng thành nhân bản và trưởng thành Ki-tô giáo. Người tu sĩ có mối tương giao thường xuyên với người khác vì thế họ cần phải học cách cư xử và giao tế cho đúng phép. Hơn nữa, dưới cái nhìn chính danh, người tu sĩ là người được kêu gọi để trở nên "hình ảnh sống động" của Đức Giê-su, Đấng đã đến trần gian trong thân phận con người, hoàn hảo về phương diện nhân bản, đặc biệt qua thái độ của Người đối với tha nhân. Vì thế, người tu sĩ cần được rèn luyện để ngày càng trở nên giống Thầy của mình "có khả năng nhận thức được chiều sâu trong tâm trí con người, nhạy bén về những khó khăn và những vấn đề, dễ dàng gặp gỡ và đối thoại, gây được niềm tin và sự cộng tác, đưa ra những phán đoán ngay thẳng và khách quan." [1]

Trong huấn từ ban cho Dòng Cát-minh, ngày 23.9.1951, nhân kỷ niệm 25 năm thành lập học viện Quốc tế của Dòng tại Rô-ma, Đức thánh cha Pi-ô XII đã khẳng định sự quan trọng của việc trưởng thành nhân bản: "Trong khi chờ đợi người tu sĩ trẻ trở nên thành viên có nhân đức sáng ngời, thì họ phải luyện tập trở thành con người hoàn hảo trong những công tác thường nhật: vì làm sao con người có thể trèo lên đỉnh núi nếu dưới đồng bằng họ đi chưa vững bước! Vậy ước mong rằng người tu sĩ rèn luyện và biểu dương qua cuộc sống, một nghị lực thích ứng với tha nhân và tương quan xã hội, một thái độ cởi mở, một bộ diện nhu mì, một tâm hồn trung thực, và cũng ước mong rằng người tu sĩ ấy luôn luôn giữ lời hứa, làm chủ ngôn hành của mình, biết kính trọng mọi người, giữ đức công bình, giữ đức nhẫn nhục.."

Công đồng Va-ti-ca-nô II trong Sắc lệnh đào tạo Linh mục cũng khẳng định: "Các chủng sinh phải tập cho quen biết điều thích hợp với cá tính mình, họ phải được huấn luyện cho có tinh thần quả cảm, và nói chung phải biết quý chuộng những đức tính mà người đời thường quý chuộng" và " Sẽ thất bại khi gán ép sự thánh thiện Ki-tô giáo cho một người chưa đạt tới sự trưởng thành nhân bản"[2]. Những điều nói về chủng sinh, cũng phải hiểu về các tu sĩ nữa, nhất là các tu sĩ trẻ đang trong giai đoạn đào tạo.

Như vậy, sự trưởng thành nhân bản là rất cần thiết đối với người tu sĩ. Đó là nền tảng để xây dựng sự trưởng thành Ki-tô giáo và trưởng thành đời tu. Vậy, để trưởng thành nhân bản, người tu sĩ cần được huấn luyện thế nào? "Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền,... thì xin anh em hãy để ý" (Pl 4,8)

Người trưởng thành nhân bản là người rèn luyện thành công những đức tính tự nhiên, đạt tới nhân cách viên mãn. Đó là phải rèn luyện để biết cư xử lịch sự với bản thân và người khác; biết sống thành thật, công bằng, chính trực, tiết độ; biết tự tín, tự chủ, sáng tạo; có tinh thần trách nhiệm ... Nói về nội dung giáo dục nhân bản, Đức thánh cha Gio-an Phao-lô II, trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, đã khẳng định "sự cần thiết phải có một nền giáo dục về lòng yêu mến chân lý, sự chân thành, thái độ tôn trọng mọi người, ý thức về công bình, trung tín với lời mình nói, sự cảm thông đích thực, tính nhất quán và nhất là quân bình trong phán đoán và thái độ cư xử"[3] đối với các chủng sinh trong giai đoạn đào tạo. Điều này cũng phù hợp với người tu sĩ trẻ.

Khi nói đến giáo dục nhân bản, chúng ta thường nghĩ đến việc được đào tạo tựa như vị giáo sư truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm cho sinh viên. Điều này chỉ đúng một phần, mà có lẽ là phần nhỏ. Trong lĩnh vực đào tạo nhân bản, chính mỗi người phải tự đào luyện mình, với sự giúp đỡ của anh chị em hiện diện xung quanh.

Đối với tinh thần

Rèn luyện lòng chân thành: chân thành với mình và chân thành với người khác. Chân thành với mình là tư tưởng và hành động phải phù hợp với nhau, nghĩ sao làm vậy. Vì thế, trước khi hành động, chúng ta phải nhìn lại ý hướng của mình và cố gắng loại trừ những gì không tốt. Chân thành với người khác gắn liền với sự chân thành với chính mình. Không thể sống chân thành với chính mình khi không chân thành với người khác.

Truy tầm chân lý: là những người môn đệ Đức Giêsu, các tu sĩ đang trên đường tìm kiếm Chân Lý để có thể làm chứng cho Chân Lý. Đây là một hành trình dài, cần sự nhiệt tâm và kiên trì của mỗi người. Người trưởng thành không ngừng tìm kiếm tìm sự thật sâu thẳm về chính mình và về sự vật với con mắt nội tại của con tim, để ngày càng trở nên khiêm tốn và tin tưởng vào Thiên Chúa hơn.

Trau dồi kiến thức: Ngày nay, người tu sĩ sống trong môi trường khoa học phát triển, trình độ dân trí ngày một cao hơn, phương tiện kỹ thuật ngày càng đa dạng...Vì thế, để có thể phục vụ tốt hơn, để có thể chu toàn sứ vụ và trở nên hữu ích cho mọi người, người tu sĩ cần được đào tạo, trau dồi để có thể có trình độ kiến thức tương xứng và chuyên môn nào đó. Ngày nay có nhiều cơ hội học tập cho mọi người, vì thế để có kiến thức về một lĩnh vực nào đó là điều không khó.

Rèn luyện thái độ bao dung: "Bao dung trở thành đường lối xử thế chủ yếu làm sao để người khác được tự do trình bày những quan điểm mà chúng ta không đồng ý và nhất là cho phép mỗi người sống theo nguyên tắc và xác tín riêng".[4] Bao dung đích thực đòi hỏi phải có lập trường và xác tín riêng, nhưng không áp đặt xác tín của mình trên người khác, chấp nhận để những người khác cũng có những xác tín riêng của họ. Bao dung là nhìn nhận và chấp nhận những khác biệt giữa các cá nhân, là biết lắng nghe người khác, trao đổi với họ và hiểu họ. Như thế, bao dung là điều rất cần thiết đối với những người tu sĩ sống cộng đoàn.

Đối với tình cảm và ý chí

Tình cảm là một năng lực mãnh liệt có thể giúp chúng ta hăng say làm việc có ích hoặc có thể đẩy chúng ta vào con đường tha hóa. Chúng ta không thể hủy diệt tình cảm của mình. Vì vậy, cần phải rèn luyện tình cảm để khơi dậy sức mạnh nhân bản lớn lao, tức là điều khiển và hướng dẫn tình cảm vươn lên những đối tượng tốt đẹp hơn. Để chế ngự tình cảm và hướng nó đến những đối tượng cao đẹp, thì chúng ta cần tạo cho mình một ý chí mạnh mẽ. Để thành nhân, chúng ta phải biết tiết chế đam mê và hướng dẫn các khuynh hướng bản năng.

Rèn luyện khả năng yêu thương: trong thông điệp Đấng Cứu Chuộc, Đức Giáo hoàng Gioan Phao-lô II khẳng định: "Con người không thể sống mà không có tình yêu". Vì thế, người trưởng thành nhân bản phải là người biết yêu bản thân mình, có trách nhiệm làm cho mình phát triển trọn vẹn cả về thể lý, tâm lý, thiêng liêng. Đó không phải là tình yêu vị kỷ, nhưng chính khi biết yêu bản thân mình, chúng ta biết trao hiến cho người khác, yêu thương và đón nhận họ như mình vậy.

Rèn luyện ý thức: người trưởng thành nhân bản là người biết khám phá và nhận biết chính bản thân mình với những nét độc đáo, riêng biệt. Chính khi ý thức về bản thân, chúng ta có thể chọn lựa và quyết định sứ vụ phù hợp với bản thân.

Chấp nhận thực tế: người tu sĩ trưởng thành nhân bản là người biết chấp nhận thực tế về bản thân, có cái nhìn đúng đắn về mình, không huênh hoang tự đắc, cũng chẳng giả bộ giả hình. Ngoài ra, người tu sĩ trưởng thành còn phải biết chấp nhận hoàn cảnh, môi trường cuộc sống của cộng đoàn, hội dòng, và anh chị em. Nhờ biết chấp nhận thực tế, họ có thể sống bình an, hạnh phúc.

Rèn luyện cảm xúc: người tu sĩ trưởng thành nhân bản là người sống yêu thương chan hòa với mọi người, có khả năng mở rộng tâm hồn cho mọi người và đón nhận họ một cách thanh thản, không thiên kiến với ai. Trong giao tiếp, họ biết diễn tả hồn nhiên và đúng mức cảm xúc.

Rèn luyện tinh thần trách nhiệm: người trưởng thành là người có tinh thần trách nhiệm về công việc mình đảm nhận, về cuộc sống cũng như lựa chọn của mình.

Rèn luyện khả năng thích nghi: chúng ta muốn bước vào cuộc sống mới, chúng ta phải chấp nhận từ bỏ lối sống cũ và sẵn sàng hòa nhập. Được coi như người lữ hành, người tu sĩ cũng phải rèn luyện để có thể thích nghi thường xuyên với môi trường mới.

Rèn luyện thái độ quân bình và trung dung: người tu sĩ cần rèn luyện để có thể luôn giữ được mức quân bình cần thiết: giữa tâm lý và thể lý, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa lao động và nghỉ ngơi...Chính điều đó, giúp cho họ giảm bớt căng thẳng trong cuộc sống, để sống đời tu hạnh phúc hơn

Huấn luyện lương tâm

Lương tâm có thể bị ngủ mê, sai lầm, lạc lối. Một số người có ít khả năng nhận ra tiếng nói của lương tâm, vì thế, vai trò giáo dục lương tâm được đặt ra một cách khẩn thiết. "Sự trưởng thành nhân bản của linh mục đặc biệt phải bao gồm việc huấn luyện lương tâm. Thực vậy để ứng sinh có thể trung thành chu toàn những bổn phận với Thiên Chúa, Giáo hội và biết khôn ngoan hướng dẫn lương tâm các tín hữu, họ phải làm quen với việc lắng nghe tiếng Thiên Chúa đang nói với họ trong tâm hồn, và chấp nhận thánh ý Người với lòng yêu mến và cương quyết".[5]

Huấn luyện lương tâm thế nào? Trước hết cần huấn luyện tri thức để biết những nguyên tắc căn bản về luân lý và giáo huấn Tin Mừng. Thứ hai: tạo một thói quen biết nhạy cảm trước những giá trị luân lý và luôn chăm chú kiếm tìm thánh ý Thiên Chúa. Cuối cùng: để có thể lắng nghe tiếng nói lương tâm cũng cần cầu nguyện, có thái độ phản tỉnh và biết đối diện với bản thân mình.

Người tu sĩ phải nhận ra những đòi buộc mà con người phải chu toàn để thực hiện sứ vụ làm người. Họ sẵn sàng hành động không phải vì sợ hình phạt, hoặc hay muốn bắt chước cách hời hợt, nhưng dựa trên xác tín về những giá trị nội tại của các đòi hỏi luân lý.

Rèn lyện mối tương giao với người khác

Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II khẳng định "mối tương giao với người khác có tầm quan trọng đặc biệt. Đây là một yêu tố thực sự thiết yếu đối với người được mời gọi để lãnh trách nhiệm về một cộng đoàn và trở thành một con người hiệp thông"[6]. Thật vậy, con người không thể khép kín nơi chính mình, mà phải sống trọn vẹn chiều kích xã hội mở rộng mối tương quan với cộng đoàn. Thánh Tô-ma A-qui-nô diễn tả con người như một hữu thể sống với, sống cùng người khác và có trách nhiệm đối với lợi ích chung.

Theo cái nhìn xuất phát từ mầu nhiệm Hội thánh, đời sống tu sĩ phải thấm nhuần cả hai chiều kích: Chiều kích cá nhân – đó là đời sống nội tâm, và chiều kích cộng đồng – hướng đến tha nhân và dấn thân trong công việc tông đồ. Vì thế, người tu sĩ không thể không có mối tương quan với người khác, trước hết với anh chị em trong cộng đoàn, và sau đó với tất cả mọi người mà người tu sĩ dấn thân cho họ trong công tác tông đồ.

Vì vậy, người tu sĩ cần rèn luyện mối tương giao đó. Đó là rèn luyện thái độ cởi mở để có mối tương quan đích thực và lành mạnh với tha nhân ; thái độ tôn trọng phẩm giá con người, để có thể "vượt qua và loại trừ mọi hình thức kỳ thị về quyền lợi căn bản của con người trong lĩnh vực xã hội cũng như văn hóa, vì lý do phái tính, chủng tộc, màu da, điều kiện xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo"[7]. Ngoài ra, trong cộng đoàn, người tu sĩ cũng phải học cách hỗ trợ và xây dựng nhau, học cách chia sẻ, giao tiếp hài hoà...để ngày càng trở nên hiệp nhất trong Chúa Ki-tô và hiệp nhất với nhau trong sứ vụ.

Kết luận

Giáo hội mời gọi những người được thánh hiến trong bậc sống tu trì cần phải nhận ra sứ mạng của mình để có thể bước vào thế giới, dấn thân làm chứng cho tình yêu và phục vụ Tin Mừng hiệu quả. Để thực hiện được điều đó, họ phải được huấn luyện không chỉ về triết học, thần học, mà còn phải được huấn luyện để trưởng thành về tâm sinh lý, tu đức, tâm linh... Sự trưởng thành của ngươi tu sĩ không chỉ dựa vào nhà huấn luyện, nhưng chính việc tự huấn luyện, tự chịu trách nhiệm về chính mình trong sự tự do đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa và Hội dòng mới tạo nên nền tảng vững vàng cho sự trưởng thành. Chính Đức Giê-su, Đấng đã sống trọn vẹn kiếp người, là gương mẫu tuyệt vời cho chúng ta bước theo.

(Tập san Chia sẻ số 62)

Công Thượng

THÁCH ĐỐ CỦA NGƯỜI TU SĨ TRONG THỜI ĐẠI MỚI

Bước vào ngàn năm thứ ba, nhìn tổng thể, xã hội loài người có nhiều thay đổi theo hướng tích cực trong hầu hết mọi lãnh vực. Trong bối cảnh xã hội phát triển, cuộc sống con người được mở ra với nhiều hy vọng, nhiều hứa hẹn, nhưng cũng nhiều thách đố và không ít rủi ro. Chính vì thế, con người dù dư thừa vật chất, nhưng vẫn cảm thấy buồn phiền, chán nản, lo âu, bất an... Có nhiều người rất thành công trong sự nghiệp, lắm bạc nhiều tiền, cũng như có được một gia đình yên ấm, nhưng lại cảm thấy trống vắng trong tâm hồn. Bên cạnh đó, cùng với phát triển kinh tế, cuộc sống sung túc hơn thì đồng thời, con người cũng chạy theo lối sống thực dụng, hưởng thụ và ích kỷ hơn.

 

THÁCH ĐỐ CỦA NGƯỜI TU SĨ TRONG THỜI ĐẠI MỚI

Ra như mối tương quan tình thân dễ bị lãng quên hơn. Lại nữa, con người ngày nay cũng có nhiều thay đổi trong lối suy nghĩ, quan niệm sống và các giá trị tinh thần cũng đang được nhìn nhận lại một cách tự do hơn, thông thoáng hơn. Đặc biệt trong đời sống tâm linh, niềm tin vào các tôn giáo đang được con người đặt vấn đề. Họ nghi ngờ về một sức mạnh nào đó từ bên ngoài tác động vào đời sống của con người.

Đứng trước thực trạng của một xã hội mà con người muốn phủ nhận Thiên Chúa và chạy theo vật chất, giới trẻ Công giáo nói chung và các tu sĩ trẻ nói riêng sẽ gặp rất nhiều những thách đố trong đời sống. Với cái nhìn chủ quan, bài viết nêu lên những thách đố mà người tu sĩ sẽ phải đối diện khi sống giữa lòng xã hội hôm nay. Những gì trình bày ở đây ra như tiêu cực, nhưng hy vọng đó là số ít, còn thực tế thì phần nhiều là những gương sáng cho con người thời đại.

Thách đố khi hội nhập với xã hội

Ngày nay, người tu sĩ trẻ được mời gọi sống hội nhập để làm chứng cho niềm tin và những giá trị cao quý của Kitô giáo. Họ được kêu gọi hãy dám từ bỏ những giá trị vật chất, là những gì đáng được hưởng, để dấn thân cho một lý tưởng cao đẹp hơn. Nói thế không phải phủ nhận những giá trị vật chất đem lại cho đời tu. Thật thế, có rất nhiều phương tiện hữu ích trong xã hội hiện đại đang phục vụ cho sứ mạng của người tu sĩ. Vấn đề đặt ra là, người tu sĩ hội nhập với xã hội hay là bị hoà tan trong xã hội – một xã hội hưởng thụ và tục hoá?

Trong thực tế, có không ít người sống đời tu nhưng đã bị cuốn vào vòng xoay của lối sống thực dụng. Không ít người chọn đời tu để mong thoát ra khỏi những khó khăn về đời sống vật chất. Họ chọn nhà Dòng như là điểm dựa để tiến thân. Họ chạy theo thời đại với những toan tính thiên về vật chất. Họ cũng cố gắng tìm cho mình những gì người khác có. Về bằng cấp, họ cũng tìm kiếm như mọi người, nhưng không phải để phục vụ mà là để khoe mẽ, để tiến chức. Về vật chất, nhiều vật dụng không cần thiết hoặc chưa cần thiết cho cuộc sống thì họ cũng cố gắng phải có để bằng anh, bằng em. Khi bản thân hoặc gia đình họ không có điều kiện, họ cố gắng chạy chọt, xin xỏ để đạt được những gì mình muốn. Có nhiều người đưa ra những lý luận rất hay để biện minh cho những hành động chạy theo lối sống hưởng thụ của mình.

Thế còn những người mang nơi mình một lý tưởng cao đẹp trong đời sống dâng hiến thì sao? Họ phải sống thế nào trước một xã hội đề cao cái tôi cá nhân và sự hưởng thụ này? Có lẽ, người tu sĩ trẻ cần hội nhập để cùng đồng hành và chia sẻ với con người, giúp họ và giúp mình tìm được giá trị đích thực về đời sống con người. Người tu sĩ trẻ hội nhập để chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của kiếp người. Họ hoà đồng mà không bị hoà tan trong vũng bùn của cuộc đời nhiều tội lỗi. Người tu sĩ trẻ có thể đến với những bóng đêm của cuộc đời để kéo con người trong đó ra ánh sáng, nhưng họ không ở luôn trong bóng đêm ấy. Người tu sĩ trẻ có thể đến với những người yếu đuối để nâng họ đứng lên, chứ không bị những yếu đuối ấy nhận chìm…

Thiết nghĩ, người chọn đời tu vẫn đang sống trong xã hội này, không thể tách rời. Vì thế, họ cần tận dụng những thuận lợi mà xã hội đem lại để phục vụ cho sứ mạng của mình. Đồng thời, họ cần phát huy hơn nữa những giá trị tích cực mà cơ chế thị trường, xã hội thực dụng, công nghệ - khoa học đem lại để phần nào làm hạn chế những điều tiêu cực do chính cơ chế ấy gây ra. Hoà nhập được như thế thì thực trạng xã hội sẽ không còn là một thách đố với người tu sĩ trẻ nữa, mà trở thành một phương tiện hữu dụng để họ rao giảng sứ điệp Tin Mừng của Thiên Chúa cho con người hôm nay.

Thách đố khi sống các nhân đức

Bên cạnh việc sống hội nhập với xã hội, người tu sĩ còn được mời gọi thể hiện đời sống chứng tá của mình bằng việc thực thi hoàn trọn các nhân đức, để làm gương sáng cho mọi người. Đây cũng là một thách đố lớn đối với người tu sĩ trong một xã hội đang có quá nhiều những cám dỗ bủa vây.

Các nhân đức hướng thần

Việt Nam là một đất nước đa tôn giáo, trong đó có những tôn giáo đã được lưu truyền từ rất lâu, chẳng hạn như Phật giáo và Nho giáo. Ảnh hưởng của những tôn giáo này rất lớn đối với người Việt Nam, và đã ăn sâu vào trong tâm thức của nhiều người. Tư tưởng của các tôn giáo đó thì bình dân, giản dị, dễ gần và phù hợp với người nông dân Việt Nam. Trong khi đó, Công giáo với những ý tưởng thần học quá trừu tượng, qúa cao siêu không đủ sức nuôi tâm hồn những người tín hữu nói chung và người tu sĩ nói riêng trong cuộc chiến đấu trước những thách đố, cám dỗ của đời thường. Từ đó, người tu sĩ có thái độ gồng lên để chu toàn nghĩa vụ đầy công đức thiêng liêng nhưng không cảm nhận được những nét đẹp cao quý khiến cho đời tu trở nên nặng nề, ì ạch và “khó thở”[1].

Bên cạnh đó, họ lại thấy các đấng xưa nay vốn là thần tượng của mình, lại có những hành xử quá ư là con người. Bề trên thì chuyên quyền, người dưới thì luồn cúi… Họ ra sức tìm kiếm mà chẳng thấy Chúa đâu. Họ kêu gào mãi mà Chúa vẫn lặng thinh. Thế là, Đức Tin chao đảo, họ nghi ngờ không biết Chúa có thật hay không. Trong khi đó, khoa học đang dần giải thích được hầu hết các hiện tượng mà xưa nay vẫn nghĩ là Chúa đã làm. Chính những chán nản, căng thẳng, khủng hoảng trong đời tu làm cho người tu sĩ trẻ trở nên tuyệt vọng không biết bám víu vào ai, dẫn đến những thách đố về đức cậy.

Trước một thế giới đầy biến động, sự hy vọng tan vỡ mỗi ngày. Người tu sĩ thay vì phải trở nên dấu chỉ và biểu hiện của niềm hy vọng cho người tín hữu, thì chính người tu sĩ lại đánh mất đi niềm hy vọng vào Đức Giê-su Ki-tô. Mỗi khi thất vọng, đau buồn, họ không còn tìm đến Chúa nữa. Bây giờ, họ xây đắp hy vọng của mình nơi những người có thể cho họ được an toàn trong đời tu. Họ hy vọng vào mối quan hệ thân thiết với các đấng trong Dòng, trong Giáo hội, để họ được ưu đãi, cất nhắc lên làm việc này, việc kia. Họ hướng hy vọng của mình vào nơi chính quyền, nhà nước cốt làm sao để đi tu dễ dàng, mau chóng được phong chức. Họ còn hy vọng vào những người bảo trợ (cha bố, sơ mẹ), là những người bảo đảm tài chính sẽ chu cấp cho họ được cuộc sống an nhàn, có phương tiện tối tân để làm việc.[2] Nhưng khi nói tới việc làm, thì sự dấn thân đã không còn gắn liền với người tu sĩ nữa. Ai cũng muốn an phận, dính vào thêm mệt ; bề trên giao việc thì từ chối, sợ không làm được. Hình ảnh người tu sĩ dấn thân giữa đời, là người của tình yêu giờ không còn nữa. Người tu sĩ được mời gọi trở nên giống Đức Kitô tình yêu, nhân từ, sức mạnh và sự hiểu biết giờ còn đâu? Và đây cũng chính là thách đố về đức mến.

Trong thực tế, nhiều người trẻ đi tu là để tìm kiếm một vị thế trong Dòng hoặc thể hiện mình trong các tổ chức của Giáo Hội. Đôi khi, ý tưởng khởi đầu đời tu là sự quý mến hay khâm phục một tu sĩ đạo đức thánh thiện nào đó. Thế nhưng, khi đã vào tu thì họ lại mong nhanh chóng được làm linh mục để hoạt động, để được nhiều người biết đến, để được mọi người đánh giá bằng khả năng tổ chức sinh hoạt bên ngoài, chứ không phải qua đời sống tâm linh thánh thiện. Họ thích xuất hiện trước cộng đồng hơn là đọc kinh cầu nguyện. Họ thích phục vụ ư? Tốt đấy, nhưng họ lại không phục vụ theo lòng mến giống như Chúa Kitô, mà chỉ vì mục đích vụ lợi, đạt được cái gì đó cho bản thân. Trong đời sống chung, người tu sĩ trẻ chỉ biết sống với tinh thần cạnh tranh thay vì giúp đỡ nhau ; thay vì sống tình huynh đệ cộng đoàn thì họ lại chỉ trích người này, tẩy chay người nọ. Họ thiếu lòng cảm thông và sự chia sẻ cùng anh chị em trong cộng đoàn. Lòng mến Chúa và yêu thương huynh đệ không còn nữa thì đời sống của người tu sĩ trở nên nặng nề và không còn ý nghĩa nữa.

Các nhân đức nhân bản

Hơn bao giờ hết, thế giới này là một thế giới “bầm dập” vì những chuyển biến, đang cần những chứng nhân thành tâm thiện chí sống động. Chính vì thế, hơn ai hết, người tu sĩ phải thể hiện sự trưởng thành trong đời sống nhân bản của chính mình. Họ cần phải có những động lực để thúc đẩy tham dự vào những bước tiến vĩ đại của nhân loại, bằng việc sống ơn gọi đích thực, bằng việc huấn luyện lương tâm, cảm thức về những giá trị đạo đức và tinh thần, nhất là làm chứng tá cho những giá trị luân lý.[3] Đứng trước thực trạng đó, người tu sĩ trẻ làm sao kiện toàn lý trí trong điều khiển các hành vi? Làm sao tập trung ý chí trong việc chu toàn nghĩa vụ đối với tha nhân? Vững vàng không tháo lui trước những gian nguy và kiểm soát được cảm xúc không chiều theo bản năng mù quáng? Đây chính là thách đố về luân lý cho người tu sĩ trẻ.

Trước tiên, họ cần sự khôn ngoan để đọc ra được các dấu chỉ của thời đại theo ý định Thiên Chúa như Phúc Âm đã từng nói đến “Khôn ngoan như con rắn, đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16). Đó là sự khôn ngoan trong tương quan với Thiên Chúa. Thế nhưng, người tu sĩ trẻ ngày nay dường như tìm kiếm một sự khôn ngoan mà nói như thánh Phaolô là sự khôn ngoan của thế gian, là khôn ngoan danh vọng và chức quyền. Sự khôn ngoan đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của người tu sĩ. Họ dùng để phân biệt điều tốt và điều xấu, nhưng hiện nay sự phân biệt đó xem ra rất chủ quan. Họ còn dùng sự khôn ngoan nhằm nắm bắt cơ hội cho bản thân mà không màng đến quyền lợi của người khác, gây nên những bất công trong đời sống cộng đoàn.

Kế đến, sự công bằng cũng là thách đố cho người tu sĩ khi mà cá nhân chủ nghĩa được đề cao. Mối tương quan giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đoàn cũng đòi hỏi sự công bằng, nhưng là đòi hỏi theo cách cá lớn ép cá bé, hay bề trên cho anh xe gắn máy thì phải cho tôi vi tính hoặc cái gì đó tương đương.

Thêm nữa, bước vào đời tu, người trẻ phải lì, phải liều để dấn thân. Thiên Chúa không để ai bị thiệt hay chịu đựng quá sức mình: “Ơn Thầy đủ cho con vì sức mạnh Thầy biểu lộ trong sự yếu đuối” (2Cr 12,9). Đó là lòng can đảm và sức mạnh Chúa ban để chúng ta vượt qua chông gai thử thách. Tuy nhiên sự can đảm không chỉ có thế, mà đôi khi phải chịu đựng gian khổ nữa. Thử hỏi bây giờ có mấy người dám dấn thân vào những nơi cực khổ? Ngay trong cộng đoàn, họ dùng sự can đảm để từ chối, để rút lui trước những khó khăn, dùng sức mạnh để đối đầu anh em mình.

Cuối cùng, dù sống giữa đời thường hay trong đời sống tu trì, thì việc giữ chừng mực trong hết mọi hành động vẫn là điều quan trọng. Hơn nữa, là người tu sĩ thì chúng ta phải làm gương, nếu không chúng ta sẽ giảng dạy như thế nào khi mà cuộc sống chúng ta chẳng ra làm sao. Người tu sĩ cần phải kìm hãm những nhu cầu tự nhiên trong khuôn khổ chừng mực.

Thách đố khi sống ba lời khuyên Tin mừng

Trong một xã hội, đang khi con người đề cao tiền bạc, vật chất, thì đời sống tu trì lại mời gọi người tu sĩ sống lời khấn khó nghèo triệt để ; đang khi con người sống hưởng thụ, thì người tu sĩ lại được mời gọi sống khiết tịnh vì Nước Trời ; đang khi con người đề cao cái tôi cá nhân, thì người tu sĩ lại được mời gọi sống vâng phục tuyệt đối theo gương Đức Ki-tô, “Đấng đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,8). Đó chính là thách đố khi người tu sĩ giữ ba lời khuyên Tin mừng.

Khó nghèo

Không ai trong chúng ta muốn sống nghèo, nhất là trong xã hội mà người ta đang đề cao tiền bạc, hưởng thụ và cái nghèo bị coi là điều bất hạnh. Người tu sĩ trẻ cũng đang bị cuốn vào vòng xoáy đó và đây là một thách đố. Thực tế, nếu người tu sĩ trẻ tự nguyện sống nghèo, sống giản dị thì cũng rất khó, bởi những tác động của nội cảnh và ngoại cảnh. Nhìn ra xã hội, chúng ta thấy đủ loại hình thức quảng cáo, tiếp thị khuyến khích người trẻ hưởng thụ những tiện nghi vật chất, nhưng lại hạ thấp và quên đi những giá trị tinh thần cao đẹp của con người. Nhìn vào bạn bè cùng lứa tuổi thì họ đã có sự nghiệp, gia đình ổn định, còn mình thì chẳng có gì cả. Từ những so sánh tính toán đó, người tu sĩ trẻ dễ rơi vào những cám dỗ về phương tiện vật chất. Họ nghĩ muốn học hành, phục vụ cần phải có vi tính xách tay, xe gắn máy thật “xịn”để dễ dàng di chuyển chỗ này chỗ kia, làm cho được việc. Ban đầu, ý tưởng có đủ điều kiện vật chất để thi hành công việc là một điều tốt. Thế nhưng sau đó, ý hướng này đã bị lạm dụng bởi những nhu cầu không chính đáng. Những tài sản có được do khéo xin xỏ thì ai cũng bo bo giữ cho riêng mình, không dám chia sẻ cùng anh chị em trong cộng đoàn. Cứ thế, người tu sĩ bị bao phủ bởi những vật chất có được, khó lòng từ bỏ. Lời khấn khó nghèo trở nên nặng nề hoặc có thể bị xuyên tạc để trở nên dễ dàng hơn.

Vâng phục

Thế hệ trẻ ngày nay tỏ ra đầy tính cách duy lý, họ tìm cho mình một lập trường và có thể tự cho rằng đã đủ để mạnh dạn phê bình người khác. Nhiều tu sĩ trẻ dựa theo lập trường, theo kiến thức, sự hiểu biết của mình mà không chịu nhận mình sai sót. Có nhiều người còn lợi dụng tinh thần tự do dân chủ để phản đối lại những quyết định của bề trên. Họ lẩm bẩm kêu ca khi bị truyền phải vâng phục, “bằng mặt mà không bằng lòng”. Họ quên rằng, lời khấn vâng phục mà họ đã tuyên khấn là vâng phục Thiên Chúa, và bề trên chỉ là người thay mặt. Một cách nào đó, mọi người, đặc biệt các vị bề trên cũng đã có cái nhìn cởi mở hơn trong khi thực hiện quyền bính trên các người trẻ. Họ tôn trọng những giá trị riêng biệt của từng cá nhân. Họ lắng nghe người trẻ một cách tích cực và cảm thông hơn. Thế nhưng, không vì thế mà các tu sĩ trẻ quá coi thường, thiếu sự tôn trọng.

Khiết tịnh

Khi cuộc sống tu trì gặp khủng hoảng, căng thẳng, không còn niềm vui, mà cộng đoàn không thể chia sẻ thì người tu sĩ trẻ dễ đi tìm sự khoả lấp từ bên ngoài. Khi tâm hồn trống vắng, họ sẽ tìm đến với những niềm vui mà chính họ cũng không nghĩ là sẽ gặp trong cuộc đời. Bên cạnh đó, các phương tiện truyền thông như báo chí, truyền hình, Internet… truyền tải những hình ảnh độc hại, nội dung đồi truỵ dễ lôi kéo người tu sĩ trẻ vào việc thoả mãn những nhu cầu tâm sinh lý khi đang khủng hoảng. Họ không còn cảm nhận được niềm vui khi phục vụ người khác, đặc biệt những người bất hạnh. Họ không thấy được hạnh phúc khi đến với tha nhân, khi sống cùng cộng đoàn. Họ coi cộng đoàn là địa ngục, tha nhân là gánh nặng. Họ vùng vẫy trong đam mê, trong yếu đuối của xác thịt. Lời khấn khiết tịnh đã trở nên gánh nặng, đè bẹp cuộc đời đáng ra rất hạnh phúc của họ.

Tạm Kết

Cuộc sống chúng ta luôn có những thách đố và khủng hoảng. Hành trình làm con Chúa cũng tồn tại nhiều nghi ngờ và e ngại. Dấn thân theo Đức Kitô, để trở thành người môn đệ đích thực của Người cũng thật chông gai và nhiều cam go. Chúng ta luôn mong tìm được một hướng đi nào đó thích hợp, bớt được những khó khăn thì mãn nguyện và hạnh phúc. Thế nhưng, điều này còn nhiều bước cản, vì con người thì giới hạn mà khát vọng lại vô cùng.

Vì thế, người tu sĩ trẻ ngày nay cần phải đọc ra được những dấu chỉ của thời đại. Họ cần đọc được ý Chúa muốn nói với mình điều gì qua những biến cố, những sự kiện của bản thân, của những người xung quanh, cũng như những sự kiện của xã hội. Nếu con người không thể sống thiếu cơm bánh, thì có thể nói người tu sĩ trẻ cũng không thể sống thiếu Lời Chúa: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4,4). Nhờ Lời Chúa, người tu sĩ sẽ biết được sự yếu đuối của bản thân, để biết cậy dựa, tin tưởng vào một mình Chúa mà thôi.

Cuối cùng, người tu sĩ trẻ cần thực hiện ba điểm chính yếu của đời tu, đó là: tìm kiếm Thiên Chúa, sống tinh thần hiệp thông huynh đệ và phục vụ người khác. Những người sống trong ơn gọi tu trì hãy cố gắng làm chứng cho mọi người thấy rằng, ai cũng được mời gọi nên thánh. Đồng thời, họ phải là gương sáng cho người Kitô hữu lẫn người ngoài Kitô giáo về lòng yêu thương tha nhân, nhất là những anh chị em gặp nhiều đau khổ trong xã hội. Trong một thế giới không còn ý thức mạnh mẽ về sự hiện diện của Thiên Chúa nữa, thì người tu sĩ phải trở thành chứng nhân đầy sức thuyết phục về một Thiên Chúa Tình Yêu và về đời sống vĩnh cửu mai sau.

Trong đời sống cộng đoàn, người tu sĩ phải làm chứng về các giá trị của tình huynh đệ và sức biến đổi của Tin Mừng. Tất cả những ai bước vào đời tu đều được mời gọi trở thành người đi đầu trong việc tìm kiếm Chúa, một sự tìm kiếm luôn làm dao động lòng người và được bày tỏ hết sức rõ ràng bằng nhiều hình thức tu đức và đời sống tâm linh. Sống cộng đoàn, làm chứng trong thinh lặng và bình an là hình thức thôi thúc mọi người xây dựng một sự hòa hợp lớn hơn trong xã hội. Sống nghèo khó và từ bỏ trong thinh lặng, sống thanh khiết và chân thành, sống quên mình trong tuân phục, tất cả những điều ấy trở nên lời chứng hùng hồn cho bối cảnh ngày nay.[4]

(trích Nội San Chia sẻ số 62)

 

Nguồn tin: http://daminhvn.net

Write comment (0 Comments)

Những đặc sủng mà Thánh Thần thổi vào Giáo Hội rất phong phú. Có những người được mời gọi lập gia đình. Có những người cảm thấy mình hợp với sự độc thân; họ sống giữa đời nhưng không lập gia đình.