NƯỚC TRỜI Ở NƠI ĐÂY
“Biết lấy gì cảm mến, biết lấy chi báo đền, hồng ân Chúa cao vời, Chúa đã làm cho con!”
Lời của bài thánh ca trên cứ âm ỉ vang lên trong tâm hồn tôi kể từ ngày đầu tiên đặt bước chân đến với Sabbatical IV này và cứ ngân nga mãi cho đến hôm nay. Ôi, lạy Chúa, thật tuyệt vời!
Điều tôi muốn chia sẻ rất chân thật tận thâm sâu cõi lòng mình chính là điều mà tôi được đánh động nhiều nhất nơi mái ấm Sabbatical IV này, điều mà tôi chưa hề thấy ở bất cứ nơi nào khác - không kể đến những cộng đoàn thuộc Hội Dòng của mình – đó là tình chị em chân thành qua những tấm gương khiêm tốn phục vụ tận tình của quý Chị trong Ban Điều Hành và sự nhiệt tình phục vụ giúp đỡ lẫn nhau của các chị em học viên. Chỉ sau 2 tuần đầu sống nơi đây, những gì tôi đã thấy tận mắt, được đón nhận, được trải nghiệm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tôi ngày càng đậm nét và chắc chắn sẽ còn theo tôi mãi mỗi khi nhắc đến Sabbatical IV này.
Mỗi lần được ngồi bên Chúa để hồi tâm và nội tâm hóa những gì đã sống, tình thương Chúa dành cho tôi và cho từng chị em chúng tôi thật cụ thể qua những con người Chúa đã đặt bên cạnh chúng tôi, lại trào dâng.
Những người phục vụ âm thầm
Hình ảnh đầu tiên là ngày mới đến với Khóa Bồi dưỡng. Chính quý chị trong Ban Điều Hành niềm nở đón tiếp từng học viên, đeo bảng tên vào cổ cho chúng tôi. Một chị đến tiếp kéo vali cho tôi, đưa tôi lên tận phòng, hướng dẫn cách sử dụng điện trong phòng và những gì cần. Tôi rất là cảm kích sự tận tình của chị. Chắc hẳn các chị em khác mới đến cũng được đón tiếp như vậy. Sau này khi biết quý chị là ai rồi thì lại càng ngưỡng mộ thêm. Chị thì là đương kim Bề trên Giám tỉnh của Hội dòng, chị nữa cũng đang là Tổng phụ trách của Hội dòng, chị khác là nguyên Bề trên Giám tỉnh cũng đang giữ trọng trách trong Dòng, và một chị cũng đang phụ trách Cộng đoàn… Vậy mà quý chị gác bỏ hết công việc riêng của Dòng mình để đến đây chăm lo cho các chị em của các Hội Dòng khác. Cụ thể với Sabbatical IV này là 40 nữ tu thuộc 23 Hội Dòng trong cả nước. Thật là xúc động khi chị Trưởng Ban Điều Hành cũng là Phó Bề trên của Liên Hiệp Bề Trên Thượng Cấp Việt Nam với đôi nạng lớn sau phẫu thuật, cũng đến hiện diện, hướng dẫn và giúp đỡ các học viên tận tình.
Ngày khai mạc
Ngày hôm sau có Thánh Lễ Tạ Ơn khai mạc Khóa Bồi Dưỡng do Cha Bề trên của LHBTTC, cũng là đương kim Bề trên Giám tỉnh của Dòng Tên, chủ tế. Ôi, dễ gì một nữ tu bình thường như tôi lại được gặp những vị cao cấp như thế nếu không được Ơn Chúa cho dự Khóa này. Buổi chiều hôm ấy có Nghi thức Khai mạc cho các học viên chúng tôi tại Hội trường do chính quý chị Ban Điều Hành Sabbatical IV tổ chức… thật là ấn tượng! Mỗi học viên lần lượt được gọi tên, trao nến sáng và đi vào Hội trường.
Chủ đề của Khóa Bồi dưỡng
Sau khi được nghe giới thiệu từng thành viên của Ban Điều Hành, được nghe Lời Dẫn Nhập giới thiệu chủ đề của Khóa Bồi Dưỡng: “Hãy ở lại trong Tình Yêu của Thầy” (Ga 15,9), quý chị đã giúp các học viên suy niệm Lời Chúa qua bài Tin Mừng Mc 12, 41- 44 (Bà góa nghèo với hai đồng xu) do chính quý chị đóng vai thực hiện. Thật là diễn cảm sâu sắc và rất ấn tượng. Cho tới bây giờ, những hình ảnh ấy vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Quý chị cũng chia sẻ cho chúng tôi biết lý do tại sao có được những Khóa Sabbatical như thế này, nó đến từ đâu và được thực hiện từng bước như thế nào… để các học viên biết trân quý Ân huệ Thiên Chúa ban qua quý Ân nhân hầu thực hiện tốt ước muốn cao đẹp của họ và của quý thành viên LHBTTC với lòng tri ân sâu xa. Rồi mỗi chị em được lên nhận một túi xách, bên ngoài có in tên Khóa học với những hình ảnh đẹp, bên trong đựng đầy đủ dụng cụ cần thiết cho một học viên: 1 quyển ghi Lời Chúa trong Thánh Lễ hàng ngày để làm Lectio Divina, 1 quyển in sẵn cho từng ngày suốt Khóa với những hình ảnh đầy ý nghĩa, gợi hứng cho việc viết nhật ký mỗi ngày và một số dụng cụ để ghi chép (viết, thước…). Tôi cầm túi đồ trên tay mà lòng trĩu nặng tâm tình tri ân sâu xa. Sau đó, các học viên được hướng dẫn để nắm rõ mục đích và cách thực hiện Lectio Divina trong từng nhóm nhỏ 4 người cũng như cách viết nhật ký thiêng liêng. Cấu trúc của chương trình suốt Khóa giúp mỗi học viên có cơ hội nhìn lại cuộc hành hương mà mình đã bước vào – là hành trình Ơn Gọi của mình: những niềm vui, những khó khăn thử thách, những gì đã học hỏi, đã trải nghiệm… được nội tâm hóa nhằm sinh hoa kết trái hầu chuyển giao cho thế hệ trẻ tiếp nối sau mình.
Ở lại trong tình yêu để biết phục vụ
Sau khi đã được nắm rõ từng ý nghĩa, nội dung, cách thực hiện chương trình của Khóa Bồi Dưỡng, bước vào từng ngày sống ở đây, ngoài việc ngạc nhiên, thích thú với nội dung của từng đề tài học tập mà quý chị em chúng tôi đã chia sẻ trong các bài viết của mỗi chị, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa điều gây ấn tượng sâu sắc trong tôi là tình thương và sự quan tâm một cách cụ thể của quý chị trong Ban Điều Hành dành cho các nữ tu sống Đời Thánh Hiến trong các Hội dòng của Giáo Hội Việt Nam. Tình thương và sự quan tâm ấy được thể hiện qua việc đầu tư một chương trình bồi dưỡng rất sâu sắc và hữu ích cho bản thân các nữ tu đã qua thời gian dài phục vụ sứ mạng trong Hội dòng nay được có cơ hội để nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả về thể lý lẫn tâm linh để sống tốt hoặc để chuẩn bị bước vào sống tốt giai đoạn mới: “Mùa Thu cuộc đời, Bình Minh của Tuổi Vàng”. Tình thương và sự quan tâm ấy còn được thể hiện qua sự đồng hành và khiêm tốn tận tình phục vụ của quý chị trong Ban Điều Hành. Có một chị ở xuyên suốt với chị em học viên để đồng hành, giúp đỡ tận tình. Còn các chị khác cũng thỉnh thoảng đến sống với chị em ở đây vài ngày. Sự hiện diện của các chị như Thầy Chí Thánh Giêsu ở cùng các Môn Đệ ngày xưa: như một người phục vụ. Chị không quản ngại vất vả, lăn xả vào bếp nấu nướng dọn dẹp vệ sinh cùng nhân viên nhà bếp ở đây, cùng ngồi đồng bàn với chị em, cùng hiện diện trong các sinh hoạt lớp… đầy tình mến thương! Những bữa ăn thì vô cùng phong phú và đầy dinh dưỡng khiến các thực khách hầu như lên cân chứ không hề xuống ký! Ai muốn ăn bao nhiêu tùy ý, không phải trả đồng nào, ăn no rồi mà vẫn còn dư!
Hai mươi ba Hội dòng, một gia đình
Các chị em học viên cúng tôi, không có sự phân biệt Dòng này Dòng nọ, 23 Hội Dòng, với 23 sắc tu phục khác nhau, 23 truyền thống và những hành trình riêng, nhưng khi hiện diện nơi đây, tất cả dường như chỉ còn một điều chung nhất: chúng tôi là chị em trong cùng một gia đình của Thiên Chúa. Không còn khoảng cách Dòng này, Dòng nọ. Không còn e dè hay xa lạ. Hiện diện với nhau trong mọi sinh hoạt chung, cùng tham gia, hiệp hành với nhau, dễ dàng tương tác, chia sẻ mọi sự với nhau, nâng đỡ nhau. Chúng tôi đã sống với nhau hết mình và hết tình. Chị Lớp Trưởng giúp đỡ chị em trong mọi công việc. Ở đâu cũng thấy có sự lăn xả phục vụ của chị. Những chị có tài nấu bếp đã không ngại bỏ thời gian, công sức để làm thêm những món ăn khoái khẩu cho chị em dùng thêm: các thứ chè, các thứ nước giải khát, các thứ bánh… Chỉ có Chúa mới thấy hết những hy sinh âm thầm của các chị em mọi nơi, mọi chỗ… không ngần ngại giúp đỡ nhau.
“Thiên đàng ở nơi đây!”
Có lẽ tôi chỉ có thể nói như Phêrô trong biến cố Chúa hiển dung: “Ở đây thật là hay!” Nhưng rồi tôi lại muốn nói với Sabbatical IV rằng: Sabbatical ơi! Có lẽ tôi sẽ không bao giờ còn có lại một cơ hội như thế này nữa trong đời tôi! Bởi vậy, tôi muốn giữ lại thật sâu trong lòng từng ngày đã sống, từng khuôn mặt đã gặp, từng nghĩa cử đã nhận và từng bài học đã được trao ban. Và trong giây phút này, tôi chỉ có thể thưa lên với Chúa:
“Chúa ơi, con đã thấy rồi: Thiên đàng ở nơi đây!”
Thiên đàng không nhất thiết là một nơi xa xôi. Thiên đàng có thể bắt đầu từ một tấm lòng biết yêu thương, một bàn tay biết cúi xuống phục vụ, một cộng đoàn mà mỗi phần tử biết đón nhận nhau – biết quên mình vì nhau. Thiên đàng hiện diện khi con người biết sống cho nhau bằng tình yêu của Đức Kitô.
Xin cho hồng ân trở thành hoa trái
⋆ Lạy Chúa, xin cho mỗi chị em chúng con biết trân quý những hồng ân đã lãnh nhận qua Khóa Bồi dưỡng quý báu này.
⋆ Xin cho những gì chúng con đã học, đã sống, đã cảm nghiệm không dừng lại ở những kỷ niệm đẹp, nhưng trở thành những hạt giống được gieo sâu vào mảnh đất tâm hồn.
⋆ Xin cho chúng con biết âm thầm nghiền ngẫm, cầu nguyện và nội tâm hóa để những hạt giống ấy bén rễ, lớn lên và sinh hoa trái trong đời của mình.
⋆ Khi trở về với Hội dòng, xin cho chúng con biết mang theo không chỉ những điều đã học, nhưng còn một trái tim mới: thanh thản hơn, quảng đại hơn, vui tươi hơn và biết yêu thương hơn.
⋆ Xin cho những gì chúng con đã nhận được trở thành nguồn sống để chúng con chia sẻ với các chị em, với người cao niên ũng như người trẻ, để đời sống thánh hiến của chúng con tiếp tục lan tỏa niềm vui, bình an và tình yêu của Đức Kitô.
⋆ Xin Chúa chúc lành cho quý chị trong Ban Điều Hành, cho đời sống và sứ vụ của quý chị; chúc lành cho tất cả quý Ân nhân xa gần đã góp phần làm nên ân huệ lớn lao này.
Nếu đẹp ý Chúa, xin cho Khóa Bồi dưỡng được tiếp tục, để ngày càng có thêm nhiều chị em được nghỉ ngơi, được chữa lành, được bồi dưỡng và được đánh thức lại vẻ đẹp của Ơn Gọi mình.
Và khi nhìn lại tất cả, chúng con chỉ biết cúi mình thưa:
“Biết lấy gì cảm mến,
biết lấy chi báo đền,
hồng ân Chúa cao vời,
Chúa đã làm cho con!”
Nữ tu M. Ernestine Nguyễn Thị Vượng
Chúa Quan Phòng Cù Lao Giêng
Những ngày linh thao định kỳ hằng năm trong Dòng là khoảng thời gian quý báu để người tu sĩ dành trọn từng giây phút lắng đọng trong các tương quan, hầu kín múc ơn sủng và sức sống từ chính Chúa, để trổ sinh những hoa trái thiêng liêng và thúc đẩy ngọn lửa tông đồ sáng rực lên trong lòng các môn đệ, để ra đi với sứ mạng Chúa trao ngang qua Hội Dòng với lòng yêu mến.
Kỳ linh thao lần này, chị em Khấn sinh Cần Thơ được gọi mời sống cùng Chúa với chủ đề “Loan báo Tin Mừng”. Trong Chúa Quan Phòng, chị em được yêu thương, có được một người Cha đồng hành với nhiều kinh nghiệm, cùng thao thức cho công cuộc loan báo Tin Mừng và ưu tư phục vụ người nghèo sau bao năm dấn thân hết mình cho sứ mạng.
Bài suy niệm này trình bày hội nhập văn hóa như một chiều kích quan trọng trong đời sống và sứ mạng của Dòng Chúa Quan Phòng hiện diện tại Việt Nam. Đời sống thánh hiến không tồn tại bên ngoài lịch sử, cũng không đứng tách khỏi môi trường văn hóa của dân tộc. Trái lại, người nữ tu được mời gọi sống đoàn sủng của Hội dòng trong bối cảnh cụ thể mà Thiên Chúa đặt để mình. Qua tiến trình gặp gỡ giữa các nữ tu Pháp và các nữ tu Việt Nam, chúng ta nhận ra rằng hội nhập văn hóa không làm mất căn tính đời tu, nhưng giúp Tin Mừng bén rễ sâu hơn trong lòng dân Chúa.
Gương người xưa
Hội nhập văn hóa bắt đầu từ việc nhìn nhận phẩm giá của người bản xứ
Hội nhập văn hóa không chỉ là thích nghi một vài hình thức bên ngoài, nhưng trước hết là nhìn nhận phẩm giá, khả năng và ơn gọi của con người trong nền văn hóa địa phương. Trong lịch sử Hội dòng hiện diện tại Việt Nam, vấn đề này xuất hiện rất sớm qua câu chuyện về tu phục và quy chế của các nữ tu bản xứ. Khi có đề nghị tạo ra sự khác biệt giữa nữ tu Pháp và nữ tu bản xứ, nữ tu Romuald đã phản kháng mạnh mẽ. Tài liệu cho biết chị rất ngạc nhiên khi nghe đề nghị một sự khác biệt về tu phục giữa nữ tu Pháp và nữ tu bản xứ, và còn nghiêm trọng hơn là sự khác biệt về Quy chế. Chị yêu cầu không thay đổi gì trước khi tham khảo ý kiến cha Grosgeorge. Cuối cùng, quan điểm này đã được chấp thuận, và các nữ tu Việt Nam tương lai được nhận tu phục của Portieux.
“Năm 1884, lúc về Portieux, nữ tu Romuald rất ngạc nhiên khi nghe đề nghị một sự khác biệt về tu phục giữa nữ tu Pháp và nữ tu bản xứ, và còn nghiêm trọng hơn nữa, một sự khác biệt về Quy chế” (Sđd 48).
Biến cố này cho thấy một trực giác truyền giáo rất quan trọng: không thể xây dựng đời sống thánh hiến trên sự phân biệt phẩm giá. Các nữ tu Việt Nam không phải là những người phụ tá hạng hai, nhưng là những người được mời gọi sống cùng một đoàn sủng, cùng một lý tưởng và cùng một ơn gọi thánh hiến.
Tài liệu nhận định rằng vào giai đoạn ấy, nữ tu Romuald và cha Grosgeorge đã hành động như các đấng thừa sai đích thực, vì đối với họ không có một sự khác biệt nào giữa các nữ tu bản xứ và các nữ tu Pháp. Chính sự nhìn nhận này đã mở đường cho một hình thức hội nhập văn hóa sâu xa hơn: Hội dòng không chỉ hiện diện tại Việt Nam, nhưng dần mang lấy khuôn mặt Việt Nam qua các ơn gọi bản xứ.
“Vào thời kỳ đó của lịch sử chúng ta, cả hai vị đều có phản ứng như các đấng thừa sai đích thực: đối với họ, không có một sự khác biệt nào giữa các nữ tu bản xứ và các nữ tu Pháp. Những ý định phân biệt nhất thời đã xuất phát từ Portieux, chứ không phải từ Cù Lao Giêng” (Sđd 49).
Sự cộng tác của các nữ tu Việt Nam là điều kiện để sứ mạng bén rễ
Một đoàn sủng chỉ thực sự bén rễ trong một dân tộc khi chính những người thuộc dân tộc ấy tham gia tích cực vào sứ mạng. Các nữ tu Pháp sớm nhận ra rằng sự hiện diện của các tập sinh và nữ tu Việt Nam không chỉ hữu ích về mặt nhân sự, nhưng còn có giá trị truyền giáo rất lớn.
Tài liệu trích một bức thư ngày 10 tháng 07 năm 1890, trong đó các nữ tu Pháp nhìn nhận: “Từ lúc có các nữ tu Việt Nam cùng đi với chúng con ra những vùng chung quanh thì dân chúng làm quen và trò chuyện với chúng con dễ dàng hơn” (Sđd 49).
Đây là một nhận xét rất quan trọng. Các nữ tu Việt Nam trở thành nhịp cầu văn hóa giữa Hội dòng và dân chúng địa phương. Nhờ họ, người dân dễ tiếp cận hơn, dễ tin tưởng hơn và dễ mở lòng hơn.
Trong thời kỳ dịch tả, phụ huynh mang con cái đến với các nữ tu. Khi các chị đi ra ngoài, trẻ em trong làng đi theo, chỉ cho các chị biết những nhà có người bệnh. Điều này cho thấy sự gần gũi văn hóa có thể mở ra những con đường mục vụ mà người ngoài khó tự mình đạt tới.
Nữ tu Romuald cũng nhìn nhận rất rõ vai trò không thể thay thế của các nữ tu Việt Nam. Chị viết: “Các em đã giúp ích cho chúng con rất nhiều, và nếu không có họ, chúng con sẽ không thể nào thành đạt ở đây được. Quả nhiên, chúng con gồm 26 nữ tu Pháp với 700-800 trẻ con, hằng năm có từ 02 đến 3.000 người tới lui và các bệnh viện của chúng con nữa v.v... Chúng con sẽ làm sao đây? A! Tất cả đều tiến hành tốt đẹp... nhờ sự cộng tác dũng cảm của các nữ tu Việt Nam. Chúng con vui mừng biết bao khi thấy họ hoàn toàn giống như chúng con! Chúng con sẽ ăn mừng long trọng ngày chị em đó tuyên khấn và đội lúp” (Sđd 50).
Nữ tu Esther cũng nói thẳng: “Không có các em tập sinh này, chúng con sẽ không thể thực hiện được những điều tốt đẹp mà chúng con đang làm ở đây. Những người Việt Nam tôn trọng và lắng nghe các em tập sinh hơn các nữ tu Pháp” (Sđd 51).
Những lời này cho thấy hội nhập văn hóa không phải là một chiến lược phụ thuộc, nhưng là điều kiện sống còn của sứ mạng. Khi người bản xứ được đào tạo, tin tưởng và trao trách nhiệm, Tin Mừng không còn là điều xa lạ từ bên ngoài, nhưng trở thành một hạt giống mọc lên trong chính lòng dân tộc.
Hòa đồng văn hóa đòi hỏi đối thoại, khiêm nhường và gần gũi
Hội nhập văn hóa không dừng lại ở giai đoạn đầu của truyền giáo. Nó là một tiến trình liên tục, đòi hỏi mỗi thế hệ phải biết đọc dấu chỉ thời đại và điều chỉnh cách sống, cách phục vụ, cách tương quan cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
Năm 1967, vấn đề học ngoại ngữ lại xuất hiện. Các nữ tu muốn học tiếng Anh vì hoàn cảnh xã hội đã thay đổi. Tiếng Anh trở nên thông dụng trong các văn phòng và trong đời sống xã hội, còn tiếng Pháp không còn giữ vị trí như trước. Tài liệu nhận xét rằng việc này không chỉ là vấn đề ngôn ngữ, nhưng biểu lộ những luồng tư tưởng thầm kín sâu xa hơn. Nói cách khác, sự thay đổi ngôn ngữ cho thấy một thay đổi sâu hơn trong tâm thức và trong tương quan văn hóa.
“Ngày 29/12/1967, mẹ Marcelle tiếp đón các chị bể trên cộng đoàn. Và vấn đề học ngoại ngữ lại tái xuất hiện. Nhưng vẫn để này biểu lộ những luồng tư tưởng thầm kín sâu xa hơn là việc từ chối nói tiếng Pháp. Đó chỉ là một hiện tượng bên ngoài. Các nữ tu muốn học tiếng Anh, vì khắp nơi trong các văn phòng, người ta nói tiếng Anh, những người Mỹ là nguồn thu nhập duy nhất của quốc gia và bởi vì tiếng Pháp không còn trọng dụng” (Sđd 722).
Mẹ Marcelle nhận ra rằng có một khoảng cách giữa cấp lãnh đạo và bề dưới. Nhiều nữ tu lãnh đạo đã từng sống ở Pháp, được học hành nhiều và có những gắn bó riêng với môi trường Pháp. Điều này dễ làm họ xa cách với chị em trong cộng đoàn tại Việt Nam. Trước tình trạng ấy, Mẹ Marcelle không chọn cách giải quyết bằng lý thuyết, nhưng bằng một cử chỉ rất đơn sơ. Sau bữa ăn tối, mẹ đi đến chỗ rửa chén và lau khoảng sáu cái đĩa.
Kết quả thật bất ngờ. Tài liệu ghi lại: “Các nữ tu đến giải trí. Bầu khí thoải mái. Một số nữ tu xin được gặp tôi ngày mai. Các chị đang cố gắng để trao đổi!” (Sđd 722). Một cử chỉ nhỏ đã mở ra một không gian đối thoại. Việc lau chén trở thành một hành vi mục vụ, vì nó làm tan bớt khoảng cách, tạo sự gần gũi và giúp chị em dễ bày tỏ tâm tình.
Điều này cho thấy hội nhập văn hóa không chỉ diễn ra qua các quyết định lớn, nhưng qua những cử chỉ khiêm nhường trong đời thường. Khi người nữ tu biết bước xuống, biết lắng nghe, biết ở gần và biết chia sẻ nhịp sống với chị em, cộng đoàn trở thành nơi Tin Mừng được sống cách cụ thể.
Ứng dụng cho hôm nay
Ngày nay, sứ mạng hội nhập văn hóa vẫn còn rất cần thiết. Người nữ tu được mời gọi trung thành với đoàn sủng, nhưng cũng phải biết sống đoàn sủng ấy bằng ngôn ngữ, tâm thức và nhu cầu của con người hôm nay. Khi Hội dòng biết hòa mình vào đời sống của dân Chúa với tinh thần cởi mở, khiêm tốn và đối thoại, sứ mạng sẽ không bị đóng khung trong quá khứ, nhưng tiếp tục sinh hoa trái trong hiện tại.
Tâm tình cầu nguyện
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết sống đoàn sủng trong lòng dân tộc với tinh thần khiêm nhường, cởi mở và tôn trọng. Xin giúp chúng con biết lắng nghe, đối thoại và hòa mình vào đời sống của con người hôm nay, để Tin Mừng được bén rễ sâu hơn trong văn hóa và trong tâm hồn dân Chúa. Amen.
Nữ tu: M. Vincent Nguyễn Thị Thơ
15 năm – nhìn lại một hành trình được yêu thương.
(05.09.2011 – 05.09.2026)
“Lạy Chúa, Ngài đã quyến rũ con và con đã để cho Ngài quyến rũ” (Gr 20,7).
Có lẽ sau mười lăm năm bước đi trong hành trình dâng hiến, con mới hiểu hơn một chút về lời của ngôn sứ Giêrêmia. Ngày ấy, con bước theo Chúa với một trái tim còn nhiều bỡ ngỡ. Con nghĩ mình chọn Chúa, chọn đời dâng hiến, chọn một con đường mà con tin là dành cho mình. Nhưng hôm nay, khi ngoảnh lại, con nhận ra rằng: trước khi con chọn Chúa, chính Chúa đã chọn con.
Chúa không chọn con vì con tài giỏi, đạo đức hay xứng đáng hơn ai. Nhưng, Ngài chọn con với tất cả những giới hạn, yếu đuối và cả những điều còn rất mong manh nơi con. Chúa biết hoàn cảnh gia đình của con, biết những lo toan, những giằng co và cả những nỗi sợ mà con từng mang theo khi bắt đầu hành trình này. Chúa biết những ngày đầu con đã khó khăn thế nào để làm quen với một đời sống mới, một cộng đoàn mới, một cách sống mới.
Đã có những lúc con tự hỏi: “Liệu mình có thể đi đến cùng không?”. Có những ngày con vui vì được sống điều mình đã chọn. Nhưng cũng có những ngày con mệt mỏi, cô đơn, thất vọng về chính mình. Có những lúc con muốn buông tay, muốn trở về với những điều quen thuộc và dễ dàng hơn.
Thế nhưng, thật lạ thay, mỗi khi con tưởng mình đang rời xa Chúa, thì Chúa lại âm thầm tìm cách đưa con trở về. Một lời động viên. Một người con gặp gỡ. Một biến cố. Một lời Chúa đúng lúc. Một chút bình an đến rất nhẹ giữa những ngày lòng con chao đảo… Chúa chẳng làm điều gì quá lớn lao, nhưng từng chút một, Chúa giữ con lại trong tình yêu của Ngài.
Giờ đây con hiểu: ơn gọi của con không được xây dựng bằng sự mạnh mẽ của con, nhưng bằng lòng trung tín của Chúa. Mười lăm năm không phải là một hành trình hoàn hảo. Nhưng đó là một hành trình có Chúa, có Hội Dòng và có chị em. Và khi đó, những điều tưởng như dang dở cũng có thể trở thành một câu chuyện đẹp của đời dâng hiến.
Hôm nay, con muốn cúi đầu thật sâu để tạ ơn. Tạ ơn vì những ngày bình an, và cả những ngày nước mắt. Tạ ơn vì những người Chúa đã gửi đến trong đời con. Tạ ơn vì những thử thách đã giúp con trưởng thành. Tạ ơn cả những lần con yếu đuối, bởi chính lúc ấy con nhận ra mình cần Chúa biết bao. Như lời Thánh Phaolô đã từng khẳng định: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10).
Mười lăm năm qua, Chúa không chỉ gọi con đi theo Ngài, nhưng còn dạy con phó thác cho Ngài. Và hôm nay, khi đứng trước một chặng đường mới, con không dám hứa với Chúa rằng con sẽ luôn mạnh mẽ. Con chỉ xin Chúa cho con một trái tim biết tín thác hơn, một tâm hồn biết lắng nghe hơn và một tình yêu đủ đơn sơ để mỗi ngày lại thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con vẫn muốn thuộc về Ngài.”
Nếu có ai hỏi con sau 15 năm: “Rốt cuộc là Chúa chọn con hay con chọn Chúa?”. Con sẽ mỉm cười và nói: “Chúa đã chọn con trước. Con chỉ cố gắng đáp lại bằng một tiếng xin vâng.”
Và nhìn lại tất cả, con chẳng thể nói gì khác ngoài hai tiếng: “Tất cả là hồng ân”. Hồng ân của một Thiên Chúa đã gọi. Hồng ân của một Thiên Chúa đã chờ đợi. Hồng ân của một Thiên Chúa đã giữ con lại. Và hồng ân của một tình yêu vẫn còn tiếp tục.
Lạy Chúa, mười lăm năm đã qua, con xin dâng lời tạ ơn. Những năm tháng phía trước, con xin tiếp tục dâng trao. Xin cứ yêu thương con, cứ dẫn con đi, cứ “quyến rũ” con, để dù đi qua bao nhiêu chặng đường của hành trình dâng hiến, con vẫn có thể bình an thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con đây. Xin cứ dùng con theo ý Ngài.”
Xin tạ ơn Chúa hôm qua. Tạ ơn Chúa hôm nay. Và tạ ơn Chúa cho tất cả những ngày mai.
Sr. M.Faustine Tú Trân
TD.Cù Lao Giêng
Năm năm khấn dòng - một quãng đường không dài, nhưng đủ để con cảm nghiệm sâu xa tình yêu và sự dẫn dắt kỳ diệu của bàn tay Chúa Quan Phòng. Từng ngày qua, Ngài vẫn luôn trung tín, luôn đồng hành và nâng đỡ con khi yếu đuối, luôn vui cùng con khi con hạnh phúc, bình an.
Năm năm - năm sắc hoa của ân sủng. Có những sắc thật rực rỡ, ngát hương trong niềm vui, nhưng cũng không thiếu những sắc hoa héo hắt, ủ rũ trước những thăng trầm của đời dâng hiến. Thế nhưng, từng đóa hoa cuộc đời con chưa bao giờ bị bỏ quên, bởi luôn được tưới mát bằng dòng suối ân sủng của Ngài, cùng sự bao bọc ấm áp của cộng đoàn và từng chị em. Con nhận ra rằng, đời thánh hiến không phải là một lối đi toàn hoa hồng, nhưng là một hành trình kỳ diệu. Nơi đó, mỗi hy sinh âm thầm, mỗi từ bỏ nhỏ bé đều được Chúa đón nhận, biến thành những hạt giống sự sống mãnh liệt, ươm mầm cho một tình yêu lớn lao hơn.
Hôm nay nhìn lại, con chỉ biết dâng lời tạ ơn và tri ân. Tạ ơn Chúa đã yêu thương chọn gọi, tri ân Hội Dòng đã kiên nhẫn uốn nắn và đồng hành, cám ơn gia đình và bạn bè đã nâng đỡ con bằng lời cầu nguyện. Con xin dâng lại tất cả vui buồn, thành công, thất bại và cả những yếu đuối của con trong tay Chúa Quan Phòng. Xin Ngài tiếp tục dẫn dắt con trên mọi bước đi, chỉnh đốn mọi việc con làm và điều khiển mọi giây phút của đời con để mỗi ngày con được đi sâu hơn vào mầu nhiệm tình yêu của Ngài.
Ước mong con mãi trung thành với ơn gọi, luôn hăng say phụng sự Chúa, luôn nhiệt thành phục vụ tha nhân và hân hoan bước đi trên con đường đã chọn, để mỗi ngày đời con trở nên lời ngợi ca tôn vinh danh Chúa.
***ĐÁP LỜI YÊU THƯƠNG****
Vừa khi nghe Chúa kêu mời
Bước đi theo Chúa giữa đời trần gian
Giãi dầu mưa nắng gian nan
An tâm Chúa vẫn tuôn tràn hồng ân.
Thương con Chúa đã bao lần
Chở che bao bọc ân cần đỡ nâng
Nay con xin quyết hiến dâng
Trọn vẹn hồn xác xin vâng theo Ngài.
Phó dâng hiện tại tương lai
Trong tay Thiên Chúa an bài yêu thương
Hăng say trên mọi nẻo đường
Đem tình thương mến tỏa hương cho đời.
Vâng nghe tiếng Chúa gọi mời
Trở nên men muối ướp đời nhân gian
Và nên ánh sáng huy hoàng
Chiếu soi trần thế tỏa lan Tin Mừng.
Sr. Saint Laurent Phan Thị Nhật
Khấn Sinh TD.Cù Lao Giêng
Đức cố Hồng Y Phan-xi-cô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, như sau: “Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa. Nhưng ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vượt qua những bước gian truân mà hầu như cơ thể không chịu đựng nổi. Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi ‘một sự bình an mà thế gian không cho được’ ”.Người tu sĩ hay người giáo sĩ khi bước theo đời sống của Đức Ki tô xét theo một gốc nhìn họ là một hình ảnh phản chiếu đời sống của Đức Ki tô trong thế giới hôm nay, ngay cả lời ăn tiếng nói, cách cư xử, hành động, hay một tiếng bước chân nhỏ cũng đủ để người khác nhìn nhận mình có sự bình an đem đến cho người khác hay đủ để xây dựng hòa bình, mà hòa bình có thật, hiện diện ngay chính trong gia đình, cộng đoàn, giáo xứ...nơi họ gắn bó tiếp xúc, làm việc...
Thật thế, mỗi người chỉ là cọng sậy trong tay Chúa dùng để hoàn thành và tiếp tục mọi sự của Chúa nơi trần gian, cũng không ai tự đấm ngực cho mình là hoàn hảo, giỏi giang, mà đúng chất hơn là họ cho rằng người đứng đầu phải giỏi, lèo láy con thuyền được...đôi lúc nghe những câu nói ấy làm tôi nhớ lại câu của Thánh Phao lô “Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Chúa” ( 1Cr15, 10). Sự tự hào quá mức sẽ dẫn con người trở nên kêu ngạo, khó gần, những gì họ có được họa chăng chính nhờ ơn ban của Thiên Chúa, đôi lúc miệng bỗng trở nên ngọt ngào, nhưng cái tâm liệu mấy ai thấy và nhìn nhận được. Người tu hành trở nên hương thơm thánh thiện của Đức Ki tô bởi họ có Chúa, xác tín hơn là Chúa chọn họ, chứ thật sự họ không xứng đáng, họ chẳng là gì, chỉ là phù vân. Nhiều lúc họ tự gán cho mình cái mác có quyền trên mọi sự và quyết định mọi sự mà chẳng xem ai ra gì. Cuộc sống là vậy, chẳng mấy khi tốt đẹp, có hạnh phúc ắt sẽ có sóng gió, sóng gió ở đâu ra, phải chăng là chính họ tạo ra, làm cho thêm nặng nề, bành trướng, và giải quyết là bằng cách áp đặt và bắt buộc. Thiên Chúa là Đấng giàu có trở nên nghèo khó, nghèo để ôm ấp chúng ta trong lòng, ôm ấp cái tật nguyền, cái thiếu xót, cái vênh váng của chúng ta, nhưng Ngài không dạy chúng ta phải đối xử với nhau cách tàn nhẫn. Vậy Thiên Chúa ở đâu trong họ, họ có nhìn lại thuở ban đầu Chúa tạo dựng và chọn gọi hay không, hay họ cho rằng tôi chọn Chúa thôi. Ắt hẳn thân phận con người, họ cũng chỉ là thụ tạo, cái tốt vẫn có đó, nhưng vẫn mắc sai lầm, cái sai lầm đôi khi dẫn họ đi quá xa mà quên mất đi bên cạnh họ Chúa đã đặt để nhiều người để giúp đỡ họ. Một khi con người cho mình là cái rốn của vũ trụ thì họ không còn nhìn thấy Thiên Chúa trong mọi sự nữa.
Bởi thế, người môn đệ theo Chúa phải lắng nghe và thi hành ý Chúa, giống như xưa Maria đã ngồi bên chân Chúa mà nghe người giảng dạy. Người dạy không phải tiếng chửi rủa hằng ngày, hay những cái vênh váo lên mặt, hay ta đây có quyền trên mọi sự mà bắt mọi người phải theo, không có sự trên dưới hay nhân bản cân bằng trong mọi sự...nhưng Chúa gọi và sai các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng “ Bình an” đến cho những người gặp gỡ, tiếp xúc, đem hòa bình đến những nơi có khói lửa chiến tranh. Chúng ta thì sao? Có khi nào tôi đặt lại câu hỏi cho chính mình, tôi đã và đang làm được điều gì cho tất cả mọi người hay tôi chỉ đem đến những nỗi đau thấu tận tâm can cho người khác. Trên thực tế, con người chúng ta nhiều khi có hòa bình nhưng sâu thẳm lại chẳng có an bình, có an lành bên ngoài nhưng lại không có an tâm bên trong.
Con đường chẳng mấy ai đi là con đường của sự tự hạ và khiêm nhu, con đường của sự lan tỏa nguồn bình an đến cho anh chị em xung quanh, con đường biết mình biết ta mà cân nhắc cư xử, chứ không phải của một thế lực nào khác, ru ngủ chúng ta trong sự giả tạo: tiền tài, danh vọng, địa vị, quyền thế, chức tước, sắc đẹp hay ông này bà nọ...mỗi người chúng ta được Chúa chọn, được mời gọi quên đi cái tôi của chính mình mà biết lao về phía trước, để đạt được mục đích là Đức Ki tô, chứ không phải những thứ khác.
Mỗi người đều có sứ mạng riêng, được sai đi và đến là để cộng tác và thi hành những lệnh truyền của Bề Trên ngang qua Hội Dòng, ngang qua Đức Giám Mục Giáo Phận mà Thiên Chúa đã trao phó, đón nhận nhau chứ không gạt bỏ nhau, xây dựng hòa bình chứ không đến phục vụ theo kiểu tạo ra chiến tranh, chia bè phái, ai mạnh thì thắng, ai yếu thì thua...làm vậy để được điều gì. Chúa Giê su cũng mời gọi “ Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”, lời mời gọi đó không chỉ là mối phúc, mà là một trách nhiệm, sứ mạng của từng người nói chung, của những người sống đời tu nói riêng, những con người mang danh Chúa Ki tô đến với mọi người, chúng ta cần có một sự thay đổi trong cách nhìn nhận và hành động, đôi lúc cái nhanh, cái vội của chúng ta chưa chắc là đúng, mà sẽ tạo ra một đống hỗn độn cho phía tương lai phía sau.
Thánh Phêrô nói: “Anh em đừng dùng quyền mà thống trị những người mà Thiên Chúa đã trao phó cho anh em” (1 Pr 3, 5). Ngài nói thêm: “Tôi khẩn nài anh em hãy chăn dắt đàn chiên mà Thiên Chúa đã trao cho anh em và hãy nhiệt thành săn sóc đàn chiên ấy. Hãy làm công việc của anh em không phải để chỉ nhận thù lao, nhưng từ khao khát thực sự muốn phục vụ. Đừng thống trị những người được ủy thác cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đàn chiên” (1Pr 5, 2-3). Giải pháp thực ra rất đơn giản, Chúa Giêsu đã chỉ dạy trong phúc âm, nếu chúng ta biết nghe và thực thi lời Ngài. “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 29). Khiêm tốn thật sự từ nội tâm, bởi vì ngườ đứng đầu ngày nay không còn là nguồn tri thức và kinh nghiệm cho mọi người tham chiếu, học hỏi như xưa nữa. “Giữa anh em ai làm lớn hãy phục vụ mọi người. Cũng như Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ” (Mc 10, 44-45 ). Hay khiêm tốn như câu nói của thánh Gioan Tiền Hô: “Ngài cần được lớn lên, còn tôi thì nhỏ bé đi” (Ga 3, 30). Đời tận hiến là biết quên mình mà vác thập giá, chết cho chính mình. Mọi sự trở nên kết thúc khi mỗi chúng ta dẹp được tính kiêu căng, coi sứ vụ là sự hy sinh và tận tâm phục vụ. Lặng, chiêm ngắm con đường thiêng liêng của Đức Tổng Giám mục Phanxicô Xaviê, ta cảm nghe lòng mình rạo rực một tình yêu. Tôi đã chọn Chúa không có nghĩa là tôi luôn luôn quỳ gối ở nhà nguyện, tay chắp, mắt nhắm, không màng đến công việc của thế gian. Không! Ngài mời gọi tôi bước ra khỏi con người ái kỷ để cùng mọi người bước đi trên một hành trình của sự phân định: Chọn Thiên Chúa và sử dụng phương tiện Chúa ban là sức khỏe, công việc, thời gian... để tìm đến mục đích tối hậu là chính Đức Kitô. Ước chi thời gian sống của chúng ta luôn làm đẹp lòng Chúa, làm đẹp lòng nhau, để những gì chúng ta dự phóng, quyết định luôn đẹp lòng Chúa về mọi phương diện và sinh hoa kết quả dồi dào, hoa quả đó chính là sự tác động của Chúa Thánh Thần chứ không phải ý riêng của ta hay bất cứ quyền lực nào tác động.
Sr. M.Monique Tuyết Nhung
Khấn Sinh TD.Cù Lao Giêng
Page 1 of 41